ray c bàn in lụa

Thảo luận trong 'Làm quen' bắt đầu bởi lephuc01, 4/5/17.

  1. lephuc01

    lephuc01 Đã đăng ký

    Bài viết:
    40
    Đã được thích:
    0
    Giới tính:
    Nam
    CHUYÊN SX CUNG CẤP SỈ LẺ NHÔM THANH KHUNG LỤA - RAY C BÀN IN CÁC LOẠI, PHỤ KIỆN BỌ NHÔM, SẮT. NHẬN GIA CÔNG NHÔM THEO KHUÂN MẪU



    LH 0937 655 551 - 0983 994 326



    WEDSITE THAM KHẢO: NHÔM KHUNG IN LỤA, RAY C BÀN IN CUNG CẤP SỈ LẺ



    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]



    ========================================================================================================

    Nhôm là gì?

    Nhôm là kim loại màu trắng bạc , mềm , nhẹ , độ phản ánh cao , có tính dẫn nhiệt và dẫn điện cao , không độc , chống mài mòn. Nhôm là kim loại có nhiều thành phần nhất , chiếm 1/12 trong vỏ trái đất. Tuy nhiên , ta không tìm thấy nhôm tinh khiết trong tự nhiên , chỉ có thể tìm thấy nhôm phối hợp với oxygen và những yếu tố khác. Trong hoàn cảnh sống nhôm thường được làm gọi là hợp kim nhôm.

    Trong số các kim khí , nhôm vượt trội về thuộc tính cũng như hình thức và nhờ vào kỹ thuật sản xuất làm cho nhôm có giá cả tranh đua với nhau. Nhôm được sử dụng càng ngày càng nhiều trong nhiều ngành , những thị trường lớn như ngành công nghiệp ô tô bắt đầu nhận ra biến hóa không thể so sánh được của nhôm.

    2.Tìm nhôm ở đâu và như thế nào?

    Quặng Bauxite là nguồn nhôm cốt tử.

    Sau khi lọc , làm mát và kết tủa , hổ lốn nhôm được lọc một lần nữa trước khi được nung thành bột. Sau đó là quá trình gạn , nung và nấu thành thỏi nhôm nguyên chất .

    3 .Hợp kim

    Trong lò nấu hợp kim , nhôm thỏi được nấu chảy và trộn với kim khí khác như magnesium , silica , đồng… để tạo thành hợp kim nhôm được sử dụng rộng rãi. Thành phần vật lý của hợp kim nhôm này được quyết định bởi các kim khí bên trong nó. Chẳng hạn:

    - Hợp kim nhôm + Manganese chống mài mòn cao

    - hợp kim nhôm + Magnesium có tính hàn tốt

    - hợp kim nhôm + Đồng có tính gia công cao

    - hợp kim nhôm + Kẽm có độ bền cao

    4.Tính chất

    • Khối lượng riêng nhỏ (. 2 , 7g/cm³ ) nên nhôm và hợp kim nhôm chỉ nặng bằng 1/3 thép , đó là thuộc tính đặc biệt được coi trọng khi các thiết bị cần chế tạo phải coi trọng đến trọng lượng ( trong ngành thủy lợi , chuyển vận... ).

    • Tính chống bào mòn trong khí quyển: Do đặc tính ôxy hoá của nó đã biến lớp bề mặt của nhôm thành ôxít nhôm ( Al2O3 ) rất xít chặt và chống ăn mòn cao trong khí quyển , từ thời gian này chúng có xác xuất dùng trong đa ngành mà không cần sơn gác canh. Để tăng tính chống bào mòn , người ta đã làm cho lớp ô xít nhôm gác canh dày thêm bằng cách anot hoá.

    • Tính dẫn điện: Tính dẫn điện của nhôm bằng 2/3 của đồng ( kim loại ) , nhưng do nhôm nhẹ hơn nên chúng được dùng nhiều hơn bởi nếu cùng truyền một dòng điện thì dây nhôm nhẹ hơn bằng 1/2; ít bị nung nóng hơn...

    • Tính dẻo: Rất dẻo , nên rất thuận lợi cho việc kéo thành dây , tấm , lá , băng , màng , ép chảy thành các thanh có biên dạng đặc biệt ( dùng cho khung cửa , các loại tản nhiệt...rất thuận lợi khi làm ra ).

    • Nhiệt độ nóng chảy: tương đối thấp nên thuận tiện cho việc nấu chảy khi đúc , nhưng cũng làm nhôm và hợp kim nhôm không sử dụng được ở nhiệt độ cao hơn 300-400 độ C.

    • Độ bền , độ cứng: Thấp.

    5.Phân loại

    Hợp kim nhôm biến dạng

    Được chia làm hai loại là hợp kim nhôm biến dạng hoá bền được bằng nhiệt luyện và hợp kim nhôm biến dạng không hoá bền được bằng nhiệt luyện. Có một số vận dụng sau:

    • Nhôm thương phẩm ( >99 , 0% ):

    o Dùng trong công nghiệp hoá học , thực phẩm , đông lạnh , làm thùng chứa ( AA1060 )

    o Dùng làm dây cáp điện ( dây trần hoặc dây bọc ): AA1350

    Tạp chất có hại trong nhôm sạch bao gồm: Fe , Si tạo lên các pha giòn FeAl3

    • Hợp kim Al-Mn

    • Hợp kim Al-Mg

    Hợp kim nhôm đúc

    • Hợp kim Al-Si ( Silumin )

    • Hợp kim Al-Si-Mg( Cu )

    Là các loại hợp kim với khoảng Si rộng ( 5-20% ) và có thêm Mg ( 0 , 3-0 , 5% ) để tạo pha hoá bền Mg2Si nên các hệ Al-Si-Mg phải qua hoá bền.

    Cho thêm Cu ( 3-5% ) vào hệ Al-Si-Mg để cải thiện cơ tính và có tính đúc tốt do có các thành phần gần với cùng tin Al-Si-Cu nên được sử dụng trong đúc piston ( AA390.0 ) , nắp máy của động cơ đốt trong.

    hệ thống ký hiệu cho hợp kim nhôm

    Để ký hiệu các hợp kim nhôm người ta thường dụng theo hệ thống giao thông phân loại của Hoa Kỳ.

    Theo hệ thống phân loại này , các ký tự đầu tiên luôn là AA ( tiếng Anh: Aluminum Association )

    Các số sau đó thường là: xxxxx đối với hợp kim nhôm biến dạng , và xxx.x đối với hợp kim nhôm cho loại đúc.

    Loại biến dạng

    • 1xxx: Nhôm sạch ( >99 , 0% )

    • 2xxx: Al-Cu , Al-Cu-Mg ,

    • 3xxx: Al-Mn

    • 4xxx: Al-Si

    • 5xxx: Al-Mg

    • 6xxx: Al-Mg-Si

    • 7xxx: Al-Zn-Mg , Al-Zn-Mg-Cu

    • 8xxx: Al-các hợp kim khác

    Đối với loại đúc:

    • 1xx.x: Nhôm sạch dạng thỏi hoặc dạng thương phẩm khác.

    • 2xx.x: Al-Cu

    • 3xx.x: Al-Si-Mg; Al-Si-Cu

    • 4xx.x: Al-Si

    • 5xx.x: Al-Mg

    • 7xx.x: Al-Zn

    • 8xx.x: Al-Sn

    ( Loại đúc không có 6xx.x )

    Các quy định Việt Nam TCVN 1659-75 quy định ký hiệu hợp kim nhôm được bắt đầu bằng Al và tiếp theo tuần tự ký hiệu hoá học của nguyên tố hợp kim cùng chỉ số % của nó , nếu là hợp kim đúc thì sau cùng có chữ Đ ( tỉ dụ: AlCu4Mg là hợp kim nhôm chứa 4% Cu , 1%Mg ). Với nhôm sạch ký hiệu bằng Al và chỉ số phần trăm của nó ( Ví dụ: Al99; Al99 , 5 )

    hỗn tạp kim loại nóng chảy ở 500- 600 độ C được đúc thành cây. Những cây này có xác xuất được cắt thành từng khúc nhỏ theo ý muốn và chúng được đưa đến các nhà máy để định ảnh. Nhôm định hình được vận dụng rông rãi trong Chỗ ở của chúng tôi như cửa nhôm , khung nhôm , và các phân bố chịu lực khác có tính cảm biết cái đẹp cao.

    6. Tính ưu việt của nhôm : “Ăn hẳn , mặc bền “ .

    - Cách âm , cách nhiệt:

    Được làm từ profile nhôm cách nhiệt kết hợp với hộp kính , hệ gioăng chống lão hóa và hệ phụ kiện kim khí đồng bộ , cửa nhôm và vách nhôm kính lớn có phú cho hình thể âm , cách nhiệt cao.

    - Chịu lực tốt

    Profile nhôm có cầu cách nhiệt là loại vật liệu cao cấp dùng trong làm ra cửa sổ , cửa đi , vách kính lớn. Hệ có cấu tạo 3 lớp gồm 2 thanh nhôm định hình và cầu cách nhiệt bằng nguyên liệu polymer ở giữa. Thêm vào đó , các rãnh , vách kỹ thuật trong cấu trúc thanh nhôm được toan tính kỹ lưỡng để tạo sống gia cố , kênh thoát nước , khoang trống cách âm cách nhiệt. Với cấu tạo này , thanh profile nhôm có tính cách âm , cách nhiệt cao và ngh ii hơn nhựa uPVC là tính chịu lực tốt.

    - thể hiện ở kết cấu vững chắc của các thanh nhôm được sản xuất theo chương trình quốc tế , có thể chịu được mọi sức ép của gió , bão trên cấp 12. , không bị cong vênh , co ngót , oxi hoá và han gỉ theo thời kì , thích nghi với những hoàn cảnh thời tiết Rắc rối ở Việt Nam

    - trọng tải nhẹ

    Do đặc điểm nhôm là nguyên liệu nhẹ , có độ bền cao , được thiết kế các khoang rỗng cùng với các sống gia cố hợp lý nên việc dùng vật liệu này sẽ giảm tải trọng của tất công trình hơn hẳn so với vách tường dùng các loại nguyên liệu khác.

    - Kinh tế trong dùng

    Tại các tòa nhà cao tầng có nhiều diện tích vách gặp mặt trực tiếp với ánh nắng mặt trời. Chi phí điện năng cho hệ thống điều hòa , thông gió nhằm ổn định điều kiện không khí bên trong tòa nhà rất lớn. sử dụng cửa nhôm hay vách nhôm kính lớn có cầu cách nhiệt với hộp kính cách âm , cách nhiệt làm từ các loại kính như kính phản quang , kính cản nhiệt , kính an toàn...... là giải pháp chính trong việc kiệm ước điện năng.

    Profile nhôm đã được xử lý bề mặt và sơn tĩnh điện với công nghệ tiên tiến nên có độ bền cao , luôn giữ được màu sắc và kiến trúc của cửa ngay trong cả điều kiện thời tiết hà khắc. Ngoại giả cửa nhôm hay vách nhôm kính lớn còn tiện lợi cho gia chủ khi sơn , sửa bởi chỉ lau chùi bình thường là sáng đẹp như mới mà không cần phải tu bổ , bảo dưỡng định kỳ.

    - Tính thẩm mỹ

    Cửa nhôm kính rộng , sang trọng , nối và mở mang được hôn gian , tạo được tầm nhìn tổng quát cho căn phòng.



    - Không cháy và không có khí độc : Nhôm không cháy , khi nóng chảy cũng không tạo ra khí độc như nhựa .

    hiện tại sự Đa chủng trong thiết kế cửa nhôm và sự phát triển của công nghệ đã tạo cho người sử dụng nhiều ứng dụng với cửa nhôm hơn .

    - bảo vệ môi trường

    Nhôm được tái sinh với chi phí phù hợp. Nó có xác xuất được tái sinh nhiều lần mà không làm mất phản ứng vì vậy phù hợp với sản phẩm canh gác môi trường

    7.Sơn và xi mạ màu

    - Hiệp hội các nhà làm ra nhôm trang trí Mỹ quy định độ dày lớp xi như sau:

    * Không xếp loại ( 0.1 đến 0.3 mili ) dùng trang trí trong nhà

    * Loại 2 ( 0.4 đến 0.7 mili ) dùng trang trí bên trong và bên ngoài nhà , thường chịu được các chất tẩy rửa

    * Loại 1 ( 0.7 đến 1.0 mili ) dùng trang hoàng bên ngoài nhà , đòi hỏi tính gác canh cao

    - Sơn nước và sơn tĩnh điện:

    Thành phẩm được sơn nước và sơn tĩnh điện để có bề ngoài đẹp và canh gác khỏi bi( ảnh hưởng của mưa acid , môi trường ô nhiễm sulfur , nhiễm muối và bị oxide hoá

    Có 2 loại dây chuyền sơn: sơn đứng và sơn nằm

    mặc dầu có sự khác nhau giữa sơn nước và sơn tĩnh điện , cả hai đều có chung chức năng tạo bề mặt đẹp , canh gác khỏi tác hại của môi trường

    Cần kiểm tra bề ngoài và thành phần nông dân của sản phẩm theo những tiêu chuẩn sau: độ cứng , độ dẻo , chống trầy xước , chống chất hoá học , chống mài mòn , không ghi bằng phấn , bền màu , độ bóng , chống tia tử ngoại và những đặc tính bảo vệ môi trường khác.

    Có 3 loại lớp phủ:

    AAMA 603: dùng cho cửa sổ , thời kì là 1 năm

    AAMA 605: dùng cho cửa kính , đòi hỏi thời kì lâu hơn , trên 5 năm

    ASCA 96: có vẻ ngoài đẹp và dùng trang hoàng đòi hỏi độ bền cao , thường trên 10 năm.

    ===================================================================

    Nhôm là yếu tố phổ thông thứ 3 ( sau ôxy và silic ) , và là kim khí phổ thông nhất trong vỏ trái đất. Đến hiện nay , nhôm được sử dụng rất nhiều trong đời sống. Nhưng ít người biết rằng nhôm đã có một thời mắc hơn cả vàng bạc , là món đồ xa xỉ của bậc đế vương!



    khí dụng làm từ Nhôm

    Nhà viết sử cổ đại Plini Bố có kể chuyện một sự kiện lý thú từng xảy ra gần hai thiên thu về trước. Một hôm , một người lạ mặt đến gặp hoàng đế La Mã Tibêri. Địa ngục đó mang tặng hoàng đế một cái chén do chính mình sản xuất từ một thứ kim khí lóng lánh như bạc , nhưng lại rất nhẹ. Địa ngục thợ nói rằng , anh ta lấy được thứ kim khí mà chưa ai biết này từ đất sét. Có lẽ Tibêri ít khi bận tâm hàm ơn ai , và ông ta cũng là một hoàng đế nông cạn. Sợ rằng , thứ kim loại mới với những thuộc tính tuyệt trần của nó sẽ làm mất hết giá trị của đống vàng và bạc đang lưu giữ trong kho , nên vị hoàng đế này đã ra lệnh chém đầu người phát minh và phá tan xưởng của anh ta để từ đấy về sau không còn ai dám làm ra thứ kim khí “nguy hiểm” ấy nữa.



    Đó là chuyện có thật hay chỉ là truyền thuyết - thật khó dạy. Nhưng nói gì thì nói thì “nguy cơ” cũng đã qua khỏi , và tiếc thay , đã qua lâu lắm rồi. Mãi đến thế kỷ XVI , tức thị khoảng một mãi mãi trăm năm về sau , lịch sử của nhôm mới được ghi thêm một trang mới. Vị y sự kiêm nhà vạn vật học đầy tài năng người Đức là Philip Aureon Teofrat Bombat Fôn Hôhengây ( Philippus Aureolus Theophratus Bombastus Von Hohenheim ) - người đã đi vào lịch sử với biệt danh là Paratxen , đã làm được điều đó. Khi nghiên cứu các chất và các khoáng vật khác nhau trong đó có cả các loại phèn , nhà bác học này đã rõ ràng được rằng , chúng là “muối của một loại đất chứa phèn nào đó” mà thành phần nông dân của nó có chứa oxit của một kim loại chưa ai biết; thứ oxit này về sau được làm gọi là đất phèn.



    Từ thời xa xưa người ta đã biết đến các loại phèn mà Paratxen từng quan tâm. Theo công nhận của nhà viết sử người Hy Lạp là Hêrođot ( sống ở thế kỷ thứ V trước công nguyên ) thì các dân tộc xa xưa đã dùng một loại chất khoáng mà họ làm gọi là “Alumen” , tức thị “làm săn sợi” để giữ màu khi nhuộm vải. Chất khoáng này Ấy là phèn.



    Vào khoảng thế kỷ thứ VIII - IX , phèn đã được dùng để nhuộm vải , để thuộc da cừu , da dê ở nước Nga cổ xưa. Thời trung thế kỷ , một số xưởng làm ra phèn đã hoạt động ở châu Âu.

    Năm 1754 , nhà hóa học người Đức là Anđrêat Xighizmunđơ Macgrap ( Andreas Sigismund Marggaf ) đã tách được thứ “đất chứa phèn” mà Paratxen đã nói đến từ hai trăm năm trước đó. Phải qua mấy chục năm nữa , nhà bác học người Anh là Hanfri Đêvi ( Humphry Davy ) mới thử tìm cách tách thứ kim khí ẩn náu trong phèn. Năm 1807 , bằng cách điện phân các chất kiềm , ông đã phát xuất hiện natri và kali , nhưng ông chưa phân giải được đất phèn bằng dòng điện như thế. Mấy năm , nhà bác học người Thụy Điển là Iuên Iacop Becxêliut ( Jons Jakob Berxelius ) cũng bắt tay vào những cuộc thử nghiệm như vậy , song công cuộc của ông không thu được Cuối cùng. Mặc dù vậy , các nhà bác học vẫn quyết định Mệnh danh cho kim khí “bất trị” này: lúc đầu , Becxêliut gọi nó là alumium , và về sau , Đêvi đã đổi alumium thành aluminium ( nhôm ).



    Nhà bác học người Đan Mạch Hans Khrixtian Ecxtet ( Hans Christian Oersted ) là người hàng đầu chế được nhôm kim khí giống như người thợ vô danh thời cổ La Mã. Năm 1825 , trong một tạp chí hóa học , ông đã đăng một bài trong đó ông viết rằng , sau những thí nghiệm do ông tiến hành đã thu được “một mẩu kim loại có mầu và ánh kim giông giống thiếc”. Nhưng tạp chí này không nổi tiếng lắm nên thông cáo của Ecxtet hầu như không được giới khoa học Đoái đến. Vả lại , vì mài miệt nghiên cứu về điện tử nên chính nhà bác học đã không chú trọng phát minh này của mình.



    Hai năm sau , một nhà hóa học Đức trẻ tuổi nhưng đã nổi tiếng , tên là Friđric Vuêle ( Friederich Wohler ) đã đến Côpenhaghen để gặp Ecxtet. Ecxtet cho Vuêle biết là ông không định tiếp tục các thí nghiệm phối chế nhôm nữa. Thế là sau khi phản hồi nước Đức , Vuêle đã lao ngay vào Học hỏi Sự tình này - một vấn đề mà ông quan tâm từ lâu. Chỉ đến cuối năm 1827 , ông đã công bố phương pháp phối chế kim loại mới này của mình. Sự thực thì thủ pháp của Vuêle chỉ cho phép tách được nhôm ở dạng hạt có độ lớn không bằng đầu kim băng , nhưng nhà bác học đã tiếp tục làm thực nghiệm cho đến khi có đầy đủ tất cả các bộ phận cấu thành cần thiết các thủ pháp phối chế nhôm ở dạng khối đặc. Ông phải mất ... mười tám năm vào việc đó.



    Thời bấy chừ , kim loại mới này đã có tên tuổi ngay. Nhưng vì người ta chỉ thu được nó với lượng rất nhỏ nhoi nên giá của nó cao hơn giá vàng và tìm mua được nó không phải đơn giản.



    vì thế , cũng dễ hiểu rằng , khi một vị vua một nước ở châu Âu đã sắm riêng được cho mình một bộ hoàng bào đính cúc nhôm thì ông ta liền lên mặt với các vua chúa khác mà món xa xỉ như vậy không hợp với túi tiền của họ. Các vua chúa kia chẳng còn cách nào khác ngoài ghen tức với người có diễm phúc được làm chủ bộ cúc quý hiếm đó và đành âm thầm buồn bã chờ đến một ngày ấm êm hơn.



    Chẳng phải chờ đợi lâu , niềm vui lớn đã đến với họ: năm 1855 , tại cuộc Cuộc trưng bày quốc tế ở Pari , người ta đã chưng bày "bạc lấy từ đất sét" làm chấn động dư luận. Đó là những tấm và thỏi nhôm do nhà bác học kiêm nhà công nghiệp người Pháp Hăngri Etien Xanh -Cle Đêvi ( Henri Etienne Sainte Claire Deville ) chế tác ra.



    Trước khi xuất hiện những vật chưng bày đó , một vài sự kiện sau đây đã xảy ra. Hồi ấy , Napôleon III - “đứa cháu bé tí của ông bác vĩ đại” - như những người đương thời thường gọi , là hoàng đế nước Pháp. Vốn là một kẻ thích chọc tức người khác , có một lần , ông ta mở một bữa tiệc , tại đó , những người trong họ hàng nhà vua và những vị khách vinh dự nhất được dùng thìa và dĩa bằng nhôm. Còn những khách khác thì buộc phải dùng những công cụ ẩm thực bình thường ( song vẫn là những thứ dùng cho các bữa tiệc của hoàng đế ) bằng vàng và bạc. Cố nhiên là họ uất ức đến phát khóc lên và không tài nào nuốt nổi , nhưng biết mần răng được khi ngay cả hoàng đế lúc đó cũng không thể sắm đủ cho mỗi vị khách một bộ đồ bằng nhôm theo đề nghị. Và khi mà mệnh số ban xuống ông ta một vị con trai vua để nối dòng thì người cha đầy diễm phúc đã ra lệnh cho người thợ kim hoàn trong cung đình làm một bộ đồ chơi xa xỉ bằng nhôm , vàng và các thứ đá quý.



    sau đó ít lâu , trong óc của Napôleon III đã chín muồi một đề án trêu tức , hứa hẹn một niềm vinh quang và hãnh diện , nhưng điều cốt yếu là làm cho các vua chúa khác phải xanh mắt vì ganh tị: hoàng đế đã quyết định trang bị cho lính tráng trong quân đội của mình những bộ áo giáp bằng nhôm. Ông ta dành cho Xanh - Cle Đêvin một khoản tiền lớn để ông này tìm cách chế được nhôm với số lượng lớn. Lấy phương pháp của Vuêle làm cơ sở cho những thực nghiệm của mình , Xanh - Cle Đêvin đã đề ra một quy trình công nghệ phù hợp , nhưng kim loại của ông làm ra vẫn rất đắt. Chính vì vậy nên binh lính Pháp vẫn chưa được ướm thử những bộ áo giáp như vua chúa đã hẹn , trong khi đó thì nhà vua lại rất quan hoài đến việc hộ vệ bản thân mình: vệ sĩ của ông đã được trưng diện những bộ áo giáp mới coong.



    bè phái Bônapac định lợi dụng việc Xanh - Cle Đêvin điều chế được nhôm thuần chất để nhen nhóm lên ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa: ở khắp mọi nơi , ngươi ta kêu gào về chủ quyền của nước Pháp trong việc phát hiện ra kim khí này. Đáng kính thay Xanh - Cle Đêvin , ông đã phản đối những lời “thổi phồng” này bằng một hành động phù hợp với một nhà bác học đích thật , song song cũng rất độc đáo: ông đã dùng nhôm do chính mình sản xuất ra để khắc một tấm huy chương mang chân dung Friđric Vuêle , đề năm “1827” , rồi gửi tặng nhà bác học Đức.



    Chính ở thời kỳ lúa ra đòng này cũng đã hiện ra “bạc Đêvin” với nhân cách là vật trưng bày trong triển lãm quốc tế. Có thể , những người tổ chức cuộc Cuộc trưng bày đã liệt nhôm vào hàng những kim loại thông dụng , nhưng tiếc thay nó vẫn chưa đạt tới điều đó. Thực ra , ngay từ thời bấy chừ , những người tiền tiến đã hiểu được rằng , cúc áo và áo giáp chỉ là những tình tiết nhỏ nhoi trong đời hoạt động của nhôm. Lần đầu tiên nhìn thấy những sản phẩm bằng nhôm , N. G. Checnưsepxki đã háo hức thốt lên: “kim loại này khăng khăng sẽ có một mai sau to lớn. Hỡi các bạn , trước mắt các bạn là thứ kim loại của chủ nghĩa xã hội”. Trong tiểu thuyết “Làm gì” của ông xuất bản năm 1863 có những dòng như sau: “...Nghệ thuật kiến trúc của ngôi nhà bên trong này thảnh thơi biết bao , những bức tường giữa các cửa sổ gọn nhẹ làm sao. Các ô cửa sổ thì to lớn , rộng rãi , choán hết cả chiều cao tầng nhà... Còn sàn và trần nhà thì thế nào? Các cửa lớn và khung cửa sổ kia làm bằng gì? Đó là cái gì vậy? Bạc chăng? pla-tin ư?...Ô , bây chừ tôi mới biết , Xasa chỉ cho tôi một tấm bảng nhẹ như tấm kính , lại có cả hoa tai và trâm cài đầu như vậy nữa; phải , Xasa nói rằng , sớm hay muộn rồi nhôm cũng thay thế gỗ , và có xác xuất còn thay thế cả đá nữa. Nhưng sao lại dồi dào thế. Chỗ nào cũng là nhôm... Và đây , trong phòng này nữa , một nửa sàn để ngỏ , và thế là rõ rồi , nó làm bằng nhôm...”



    Nhưng trong khi những dòng tiên tri này được Ghi chép thì nhôm cốt yếu vẫn là thứ kim khí trang sức như trước. Một điều thú vị là năm 1889 , khi Menđelêep ở Luân Đôn , để tỏ ý thừa nhận công lao xuất sắc của ông trong sự nghiệp phát triển ngành hóa học , người ta đã tặng ông một món quà quý: một chiếc cân làm bằng vàng và nhôm.

    Xanh - Cle Đêvin đã triển khai hoạt động Dữ dội. Tại thị trấn La Glaxie , ông đã xây dựng nhà máy luyện nhôm đi hàng đầu trên thế giới. Nhưng trong quá trình nấu luyện , nhà máy đã thải ra nhiều khí có hại , làm ô nhiễm bầu khí trời của La Glaxie. Những người dân Vùng đất vốn coi trọng sức khỏe của mình và không muốn chết sức khỏe vì sự tiến bộ kỹ thuật nên đã khiếu nại lên chính phủ. Nhà máy đành phải chuyển đi nơi khác , lúc đầu , ra ngoại thành Pari , sau đó đến miền nam nước Pháp.



    Song đến lúc này , nhiều nhà bác học đã thấy rằng , mặc cho tất cả các cố gắng của Xanh - Cle Đêvin , thủ pháp của ông cũng không có triển vọng. Các nhà hóa học ở các nước khác vẫn nối tìm tòi. Năm 1865 , nhà bác học Nga là N. N. Bekêtop đã đề xuất một thủ pháp rất thú. Biện pháp này đã chóng vánh được vận dụng tại các nhà máy luyện nhôm ở các nước Pháp và ở Đức.



    Năm 1886 đã trở nên một cái mốc quan trọng trong lịch sử của nhôm , khi mà nhà bác học Mỹ là Saclơ Martin Hôn ( Charles Martin Hall ) và nhà bác học Pháp là Pôn Lui Tuxtanh Eru ( Paul Louis Toussaint Heroult ) một cách Đứng riêng ra nhau đã hoàn thiện phương pháp điện phân để sản xuất kim loại này ( Trong lịch sử khoa học và kỹ thuật có không ít những trường hợp mà hai nhà bác học trong cùng một năm đã đi đến những kết luận hoặc những phát minh như nhau. Sự trùng nhau này càng “chống chất” thêm bởi cả Hôn và Eru đều sinh năm 1863 và như thể đã ước hẹn với nhau , cả hai nhà phát minh này đều mất năm 1914 ). Ý tưởng này không phải là mới: ngay từ năm 1854 , nhà bác học người Đức là Bunzen đã phát biểu ý nghĩ về việc pha chế nhôm bằng cách điện phân các muối của nó. Nhưng phải mất hơn ba mươi năm , ý định này mới được thực hành. Do phương pháp điện phân đòi hỏi nhiều năng lượng , nên nhà máy đầu tiên làm ra nhôm bằng biện pháp này ở châu Âu đã được xây dựng ở Neyhazen ( Thụy Sĩ ) , gần thác nước sông Ranh - một nguồn điện rẻ tiền.



    hiện tại , sau hơn một trăm năm , chúng tôi không thể tưởng tượng được việc sản xuất nhôm mà không dùng thủ pháp điện phân. Chính điều đó đã giúp các nhà bác học phải vắt óc nghĩ suy về một sự thật đầy bí mật như sau. Ở Trung Quốc có ngôi mộ của đại đô đốc tên tuổi là chu du , chết hồi đầu thế kỷ thứ III. Cách đây không lâu , một số họa tiết trang hoàng ngôi mộ đã được phân tách bằng quang phổ. Kết quả thật bất thần đến nỗi phải phân tách đi phân tích lại Hai ba lần , và mỗi lần như vậy , vạch quang phổ không bẩm tính ai đã chứng tỏ hùng hồn rằng , thứ hợp kim mà những người thợ xa xưa đã dùng làm họa tiết trang trí chứa tới 85% nhôm. Vậy bằng cách nào mà ngay từ thế kỷ thứ III người ta đã điều chế được kim loại này? Thời bấy giờ , con người biết đến điện họa chăng chỉ là qua sấm sét , mà chắc gì sấm sét thì chắc gì đã cùng quan điểm hoặc suy nghĩ với ai đó dự khán vào quá trình điện phân. Thế nghĩa là vẫn phải giả định rằng , từ thời xa xưa ấy đã có một biện pháp khác gì đó để pha chế nhôm , nhưng tiếc thay đã bị thất truyền hàng bao thế kỷ.



    Cuối thế kỷ XIX , ngành sản xuất nhôm đã trưởng thành vượt cấp , Cuối cùng là giá kim lo?i này giảm xuống rõ rệt và nó không còn được coi là thứ kim khí quý nữa. Cố nhiên , đối với những người thợ bạc thì chẳng có gì đáng quan hoài nữa , nhưng lập khắc nó thu được sự để ý của giới Công lao mà bấy giờ đang đứng ở ngưỡng cửa của những sự kiện lớn: ngành chế tác máy bắt đầu phát triển mạnh mẽ , ngành Công lao ôtô đã đứng vững , ngành cơ giới đang đi những bước đi hàng đầu mà trong đó nhôm đóng vai trò quan trọng nhất.

    ===============================================================================
     
  2. lephuc01

    lephuc01 Đã đăng ký

    Bài viết:
    40
    Đã được thích:
    0
    Giới tính:
    Nam
    CHUYÊN SX CUNG CẤP SỈ LẺ NHÔM THANH KHUNG LỤA - RAY C BÀN IN CÁC LOẠI, PHỤ KIỆN BỌ NHÔM, SẮT. NHẬN GIA CÔNG NHÔM THEO KHUÂN MẪU



    LH 0937 655 551 - 0983 994 326



    WEDSITE THAM KHẢO: NHÔM KHUNG IN LỤA, RAY C BÀN IN CUNG CẤP SỈ LẺ



    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]



    ========================================================================================================

    Nhôm là gì?

    Nhôm là kim loại màu trắng bạc , mềm , nhẹ , độ phản ánh cao , có tính dẫn nhiệt và dẫn điện cao , không độc , chống mài mòn. Nhôm là kim khí có nhiều thành phần nông dân nhất , chiếm 1/12 trong vỏ trái đất. Tuy nhiên , ta không tìm thấy nhôm tinh khiết trong thiên nhiên , chỉ có xác xuất tìm thấy nhôm phối hợp với oxygen và những nguyên tố khác. Trong đời sống nhôm thường được gọi là hợp kim nhôm.

    Trong số các kim loại , nhôm vượt trội về tính chất cũng như hình thức và nhờ vào kỹ thuật sản xuất làm cho nhôm đắt giá cả cạnh tranh. Nhôm được sử dụng ngày một nhiều trong nhiều ngành , những thị trường lớn như ngành Công lao ô tô bắt đầu nhận ra đặc tính không thể so sánh được của nhôm.

    2.Tìm nhôm ở đâu và như thế nào?

    Quặng Bauxite là nguồn nhôm chủ yếu.

    Sau khi lọc , làm mát và kết tủa , hỗn hợp nhôm được lọc một lần nữa trước khi được nung thành bột. Sau thời gian ấy là quá trình chắt , nung và nấu thành thỏi nhôm thuần khiết .

    3 .Hợp kim

    Trong lò nấu hợp kim , nhôm thỏi được nấu chảy và trộn với kim khí khác như magnesium , silica , đồng… để tạo thành hợp kim nhôm được sử dụng thông đạt các ngả. Thành phần vật lý của hợp kim nhôm này được quyết định bởi các kim loại bên trong nó. Chẳng hạn:

    - Hợp kim nhôm + Manganese chống mài mòn cao

    - hợp kim nhôm + Magnesium có tính hàn tốt

    - hợp kim nhôm + Đồng có tính gia công cao

    - hợp kim nhôm + Kẽm có độ bền cao

    4.Tính chất

    • Khối lượng riêng nhỏ (. 2 , 7g/cm³ ) nên nhôm và hợp kim nhôm chỉ nặng bằng 1/3 thép , đó là thuộc tính đặc biệt được chú trọng khi các thiết bị cần chế tạo phải chú trọng đến trọng lượng ( trong ngành v , vận tải... ).

    • Tính chống bào mòn trong khí quyển: Do biến hóa ôxy hoá của nó đã biến lớp bề mặt của nhôm thành ôxít nhôm ( Al2O3 ) rất xít chặt và chống ăn mòn cao trong khí quyển , "một năm do đó nó sẽ bị lãng quên" chúng có xác xuất dùng trong đa ngành mà không để ý sơn canh giữ. Để tăng tính chống bào mòn , người ta đã làm cho lớp ô xít nhôm canh giữ dày thêm bằng cách anot hoá.

    • Tính dẫn điện: Tính dẫn điện của nhôm bằng 2/3 của đồng ( kim loại ) , nhưng do nhôm nhẹ hơn nên chúng được sử dụng nhiều hơn bởi nếu cùng truyền một dòng điện thì dây nhôm nhẹ hơn bằng 1/2; ít bị nung nóng hơn...

    • Tính dẻo: Rất dẻo , nên rất thuận tiện cho việc kéo thành dây , tấm , lá , băng , màng , ép chảy thành các thanh có biên dạng đặc biệt ( dùng cho khung cửa , các loại tản nhiệt...rất thuận tiện khi sản xuất ).

    • Nhiệt độ nóng chảy: tương đối thấp nên thuận lợi cho việc nấu chảy khi đúc , nhưng cũng làm nhôm và hợp kim nhôm không sử dụng được ở nhiệt độ cao hơn 300-400 độ C.

    • Độ bền , độ cứng: Thấp.

    5.Phân loại

    Hợp kim nhôm biến dạng

    Được chia làm hai loại là hợp kim nhôm biến dạng hoá bền được bằng nhiệt luyện và hợp kim nhôm biến dạng không hoá bền được bằng nhiệt luyện. Có một số vận dụng sau:

    • Nhôm thương phẩm ( >99 , 0% ):

    o Dùng trong Công lao hoá học , thực phẩm , đông lạnh , làm thùng chứa ( AA1060 )

    o Dùng làm dây cáp điện ( dây trần hoặc dây bọc ): AA1350

    Tạp chất có hại trong nhôm sạch bao gồm: Fe , Si tạo lên các pha giòn FeAl3

    • Hợp kim Al-Mn

    • Hợp kim Al-Mg

    Hợp kim nhôm đúc

    • Hợp kim Al-Si ( Silumin )

    • Hợp kim Al-Si-Mg( Cu )

    Là các loại hợp kim với khoảng Si rộng ( 5-20% ) và có thêm Mg ( 0 , 3-0 , 5% ) để tạo pha hoá bền Mg2Si nên các hệ Al-Si-Mg phải qua hoá bền.

    Cho thêm Cu ( 3-5% ) vào hệ Al-Si-Mg để cải thiện cơ tính và có tính đúc tốt do có các thành phần gần với cùng tin Al-Si-Cu nên được sử dụng trong đúc piston ( AA390.0 ) , nắp máy của động cơ đốt trong.

    hệ thống ký hiệu cho hợp kim nhôm

    Để ký hiệu các hợp kim nhôm người ta thường dùng theo hệ thống phân loại của Hoa Kỳ.

    Theo hệ thống phân loại này , các ký tự đầu tiên luôn là AA ( tiếng Anh: Aluminum Association )

    Các số sau thời gian ấy thường là: xxxxx đối với hợp kim nhôm biến dạng , và xxx.x đối với hợp kim nhôm cho loại đúc.

    Loại biến dạng

    • 1xxx: Nhôm sạch ( >99 , 0% )

    • 2xxx: Al-Cu , Al-Cu-Mg ,

    • 3xxx: Al-Mn

    • 4xxx: Al-Si

    • 5xxx: Al-Mg

    • 6xxx: Al-Mg-Si

    • 7xxx: Al-Zn-Mg , Al-Zn-Mg-Cu

    • 8xxx: Al-các hợp kim khác

    Đối với loại đúc:

    • 1xx.x: Nhôm sạch dạng thỏi hoặc dạng thương phẩm khác.

    • 2xx.x: Al-Cu

    • 3xx.x: Al-Si-Mg; Al-Si-Cu

    • 4xx.x: Al-Si

    • 5xx.x: Al-Mg

    • 7xx.x: Al-Zn

    • 8xx.x: Al-Sn

    ( Loại đúc không có 6xx.x )

    Các quy định Việt Nam TCVN 1659-75 quy định ký hiệu hợp kim nhôm được bắt đầu bằng Al và tiếp theo lần lượt ký hiệu hoá học của nguyên tố hợp kim cùng chỉ số % của nó , nếu là hợp kim đúc thì sau hết có chữ Đ ( Ví dụ: AlCu4Mg là hợp kim nhôm chứa 4% Cu , 1%Mg ). Với nhôm sạch ký hiệu bằng Al và chỉ số phần trăm của nó ( ví dụ: Al99; Al99 , 5 )

    hổ lốn kim loại nóng chảy ở 500- 600 độ C được đúc thành cây. Những cây này có thể được cắt thành từng khúc nhỏ theo ý muốn và chúng được đưa đến các nhà máy để định hình. Nhôm định hình được vận dụng rông rãi trong hoàn cảnh sống của chúng ta như cửa nhôm , khung nhôm , và các thành phần chịu lực khác có tính thẩm mỹ cao.

    6. Tính ưu việt của nhôm : “Ăn chắc , mặc bền “ .

    - Cách âm , cách nhiệt:

    Được làm từ profile nhôm cách nhiệt phối hợp với hộp kính , hệ gioăng chống lão hóa và hệ phụ kiện kim loại đồng bộ , cửa nhôm và vách nhôm kính lớn có phú cho hình thể âm , cách nhiệt cao.

    - Chịu lực tốt

    Profile nhôm có cầu cách nhiệt là loại vật liệu cao cấp dùng trong làm ra cửa sổ , cửa đi , vách kính lớn. Hệ có cấu tạo 3 lớp gồm 2 thanh nhôm định ảnh và cầu cách nhiệt bằng nguyên liệu polymer ở giữa. Thêm vào đó , các rãnh , vách kỹ thuật trong cấu trúc thanh nhôm được tính toán kỹ lưỡng để tạo sống gia cố , kênh thoát nước , khoang trống cách âm cách nhiệt. Với cấu tạo này , thanh profile nhôm có tình cảm âm , cách nhiệt cao và nổi bật hơn nhựa uPVC là tính chịu lực tốt.

    - thể hiện ở phân bố kiên cố của các thanh nhôm được sản xuất theo thời hạn quốc tế , có thể chịu được mọi áp lực của gió , bão trên cấp 12. , không bị cong vênh , co ngót , oxi hoá và han gỉ theo thời gian , thích ứng với những điều kiện thời tiết phức tạp ở Việt Nam

    - trọng tải nhẹ

    Do đặc thù nhôm là nguyên liệu nhẹ , có độ bền cao , được thiết kế các khoang rỗng cùng với các sống gia cường hợp lý nên việc sử dụng vật liệu này sẽ giảm trọng tải của tất công trình hơn hẳn so với vách tường sử dụng các loại nguyên liệu khác.

    - Kinh tế trong sử dụng

    Tại các tòa nhà cao tầng có nhiều diện tích vách tiếp kiến trực tiếp với ánh nắng mặt trời. Chi phí điện lực cho hệ thống giao thông Hài hòa , thông gió nhằm yên ổn điều kiện khí trời bên trong tòa nhà rất lớn. Sử dụng cửa nhôm hay vách nhôm kính lớn có cầu cách nhiệt với hộp kính cách âm , cách nhiệt làm từ các loại kính như kính phản quang , kính cản nhiệt , kính an toàn...... là giải pháp chính trong việc kiệm ước điện năng.

    Profile nhôm đã được xử lí bề mặt và sơn tĩnh điện với công nghệ tiên tiến nên có độ bền cao , luôn giữ được màu sắc và kiến trúc của cửa ngay trong cả điều kiện thời tiết hà khắc. Ngoài ra cửa nhôm hay vách nhôm kính lớn còn thuận tiện cho người chủ nhà khi sơn , sửa bởi chỉ lau chùi bình thường là sáng đẹp như mới mà không để ý phải tu tạo , bảo dưỡng định kỳ.

    - Tính thẩm mỹ

    Cửa nhôm kính rộng , sang trọng , nối và mở mang được không gian , tạo được tầm nhìn Bao gồm cho căn phòng.



    - Không cháy và không có khí độc : Nhôm không cháy , khi nóng chảy cũng không tạo ra khí độc như nhựa .

    bây giờ sự đa dạng trong thiết kế cửa nhôm và sự phát triển của công nghệ đã tạo cho người sử dụng nhiều ứng dụng với cửa nhôm hơn .

    - trông coi môi trường

    Nhôm được tái sinh với chi phí ăn nhập. Nó có thể được tái sinh nhiều lần mà không làm mất biến hóa bởi vậy ăn nhập với sản phẩm bảo vệ môi trường

    7.Sơn và xi mạ màu

    - Hiệp hội các nhà làm ra nhôm trang hoàng Mỹ quy định độ dày lớp xi như sau:

    * Không xếp loại ( 0.1 đến 0.3 mili ) dùng trang hoàng trong nhà

    * Loại 2 ( 0.4 đến 0.7 mili ) dùng trang hoàng bên trong và bên ngoài nhà , thường chịu được các chất tẩy rửa

    * Loại 1 ( 0.7 đến 1.0 mili ) dùng trang trí bên ngoài nhà , đòi hỏi tính gác canh cao

    - Sơn nước và sơn tĩnh điện:

    Thành phẩm được sơn nước và sơn tĩnh điện để có ngoài mặt đẹp và canh giữ khỏi bi( ảnh hưởng của mưa acid , môi trường ô nhiễm sulfur , nhiễm muối và bị oxide hoá

    Có 2 loại dây chuyền sơn: sơn đứng và sơn nằm

    mặc dù có sự khác nhau giữa sơn nước và sơn tĩnh điện , cả hai đều có chung chức năng tạo bề mặt đẹp , bảo vệ khỏi tác hại của môi trường

    Cần thẩm tra ngoài mặt và thành phần của sản phẩm theo những tiêu chuẩn sau: độ cứng , độ dẻo , chống trầy xước , chống chất hoá học , chống mài mòn , không ghi bằng phấn , bền màu , độ bóng , chống tia cực tím và những phản ứng trông coi môi trường khác.

    Có 3 loại lớp phủ:

    AAMA 603: dùng cho cửa sổ , thời gian là 1 năm

    AAMA 605: dùng cho cửa kính , đòi hỏi thời gian lâu hơn , trên 5 năm

    ASCA 96: có vẻ ngoài đẹp và dùng trang trí đòi hỏi độ bền cao , thường trên 10 năm.

    ===================================================================

    Nhôm là nguyên tố phổ quát thứ 3 ( sau ôxy và silic ) , và là kim loại phổ biến nhất trong vỏ trái đất. Đến bây giờ , nhôm được sử dụng rất nhiều trong hoàn cảnh sống. Nhưng ít người biết rằng nhôm đã có một thời mắc hơn cả vàng bạc , là món đồ xa xỉ của bậc đế vương!



    đồ dùng làm từ Nhôm

    Nhà viết sử cổ đại Plini Bố có thuật chuyện một sự kiện lý thú từng xảy ra gần hai thiên thu về trước. Một hôm , một người lạ mặt đến gặp hoàng đế La Mã Tibêri. Địa ngục đó mang tặng hoàng đế một cái chén do chính mình sản xuất từ một thứ kim khí óng ánh như bạc , nhưng lại rất nhẹ. Người thợ nói rằng , anh ta lấy được thứ kim khí mà chưa ai biết này từ đất sét. Có lẽ Tibêri ít khi nhọc lòng hàm ơn ai , và ông ta cũng là một hoàng đế hời hợt. Sợ rằng , thứ kim khí mới với những tính chất tuyệt trần của nó sẽ làm mất hết giá trị của đống vàng và bạc đang cất giữ trong kho , nên vị hoàng đế này đã ra lệnh chém đầu người phát minh và phá tan xưởng của anh ta để từ đấy về sau không còn ai dám làm ra thứ kim khí “nguy hiểm” ấy nữa.



    Đó là chuyện có thật hay chỉ là truyền thuyết - thật khó dạy. Nhưng nói gì thì nói thì “nguy cơ” cũng đã qua khỏi , và tiếc thay , đã qua lâu lắm rồi. Mãi đến thế kỷ XVI , tức thị khoảng một ngàn năm trăm năm về sau , lịch sử của nhôm mới được ghi thêm một trang mới. Vị y sự kiêm nhà vạn vật học đầy tài năng người Đức là Philip Aureon Teofrat Bombat Fôn Hôhengây ( Philippus Aureolus Theophratus Bombastus Von Hohenheim ) - người đã đi vào lịch sử với biệt danh là Paratxen , đã làm được điều đó. Khi Học hỏi các chất và các khoáng vật khác nhau trong đó có cả các loại phèn , nhà bác học này đã xác định được rằng , chúng là “muối của một loại đất chứa phèn nào đó” mà thành phần của nó có chứa oxit của một kim khí chưa ai biết; thứ oxit này về sau được gọi là đất phèn.



    Từ thời cổ xưa người ta đã biết đến các loại phèn mà Paratxen từng quan hoài. Theo công nhận của nhà viết sử người Hy Lạp là Hêrođot ( sống ở thế kỷ thứ V trước công nguyên ) thì các dân tộc xa xưa đã dùng một loại chất khoáng mà họ làm gọi là “Alumen” , tức là “làm săn sợi” để giữ màu khi nhuộm vải. Chất khoáng này Ấy là phèn.



    Vào khoảng thế kỷ thứ VIII - IX , phèn đã được dùng để nhuộm vải , để thuộc da cừu , da dê ở nước Nga xa xưa. Thời trung thế kỷ , một số xưởng làm ra phèn đã hoạt động ở châu Âu.

    Năm 1754 , nhà hóa học người Đức là Anđrêat Xighizmunđơ Macgrap ( Andreas Sigismund Marggaf ) đã tách được thứ “đất chứa phèn” mà Paratxen đã nói đến từ hai trăm năm trước đó. Phải qua mấy chục năm nữa , nhà bác học người Anh là Hanfri Đêvi ( Humphry Davy ) mới thử tìm cách tách thứ kim khí ẩn núp trong phèn. Năm 1807 , bằng cách điện phân các chất kiềm , ông đã phát Lộ rõ ra natri và kali , nhưng ông chưa phân giải được đất phèn bằng dòng điện như thế. Mấy năm , nhà bác học người Thụy Điển là Iuên Iacop Becxêliut ( Jons Jakob Berxelius ) cũng bắt tay vào những cuộc thử nghiệm như vậy , song công cuộc của ông không thu được Cuối cùng. Mặc dầu vậy , các nhà bác học vẫn quyết định đặt tên cho kim loại “bất trị” này: lúc đầu , Becxêliut gọi nó là alumium , và về sau , Đêvi đã đổi alumium thành aluminium ( nhôm ).



    Nhà bác học người Đan Mạch Hans Khrixtian Ecxtet ( Hans Christian Oersted ) là người hàng đầu chế được nhôm kim khí giống như người thợ vô danh thời cổ La Mã. Năm 1825 , trong một tập san hóa học , ông đã đăng một bài trong đó ông viết rằng , sau những thử nghiệm do ông tiến hành đã thu được “một mẩu kim khí có mầu và ánh kim hơi giống thiếc”. Nhưng tập san này không lừng danh lắm nên thông tin của Ecxtet Đại khái không được giới khoa học chú ý đến. Vả lại , vì mải mê nghiên cứu về điện tử nên chính nhà bác học đã không coi trọng phát minh này của mình.



    Hai năm sau , một nhà hóa học Đức trẻ tuổi nhưng đã nổi danh , tên là Friđric Vuêle ( Friederich Wohler ) đã đến Côpenhaghen để gặp Ecxtet. Ecxtet cho Vuêle biết là ông không định tiếp chuyện các thử nghiệm phối chế nhôm nữa. Thế là sau khi phản hồi nước Đức , Vuêle đã lao ngay vào Học hỏi Sự tình này - một Sự tình mà ông quan tâm từ lâu. Chỉ đến cuối năm 1827 , ông đã công bố thủ pháp điều chế kim loại mới này của mình. Sự thực thì phương pháp của Vuêle chỉ cho phép tách được nhôm ở dạng hạt có độ lớn không bằng đầu kim băng , nhưng nhà bác học đã nối tiếp làm thực nghiệm cho đến khi có đầy đủ tất cả các bộ phận cấu thành cần thiết các phương pháp phối chế nhôm ở dạng khối đặc. Ông phải mất ... mười tám năm vào việc đó.



    Thời lúc này , kim khí mới này đã có tên tuổi ngay. Nhưng vì người ta chỉ thu được nó với lượng rất nhỏ nhoi nên giá của nó cao hơn giá vàng và tìm mua được nó không phải đơn giản.



    vì thế , cũng rành mạch rằng , khi một vị vua một nước ở châu Âu đã sắm riêng được cho mình một bộ hoàng bào đính cúc nhôm thì ông ta liền phách lối với các vua chúa khác mà món xa xỉ như vậy không hợp với túi tiền của họ. Các vua chúa kia chẳng còn cách nào khác ngoài ghen tức với người có diễm phúc được làm chủ bộ cúc quý hiếm đó và đành âm thầm buồn bã chờ đến một ngày thuận hoà hơn.



    Chẳng phải đợi chờ lâu , niềm vui lớn đã đến với họ: năm 1855 , tại cuộc Cuộc trưng bày quốc tế ở Pari , người ta đã trưng bày "bạc lấy từ đất sét" làm kinh động dư luận. Đó là những tấm và thỏi nhôm do nhà bác học kiêm nhà công nghiệp người Pháp Hăngri Etien Xanh -Cle Đêvi ( Henri Etienne Sainte Claire Deville ) chế tạo ra.



    Trước khi xuất hiện những vật trưng bày đó , một vài sự kiện sau đây đã xảy ra. Mãn ấy , Napôleon III - “đứa cháu bé tí của ông bác vĩ đại” - như những người đương thời thường gọi , là hoàng đế nước Pháp. Vốn là một kẻ thích chọc tức người khác , có một lần , ông ta mở một bữa tiệc , tại đó , những người trong hoàng gia và những vị khách vinh diệu nhất được dùng thìa và dĩa bằng nhôm. Còn những khách khác thì buộc phải sử dụng những dụng cụ ăn uống bình thường ( song vẫn là những thứ dùng cho các bữa tiệc của hoàng đế ) bằng vàng và bạc. Đương nhiên là họ uất ức đến phát khóc lên và không tài gì nuốt nổi , nhưng biết làm sao được khi ngay cả hoàng đế lúc đó cũng chẳng thể sắm đủ cho mỗi vị khách một bộ đồ bằng nhôm theo request. Và khi mà mệnh số hạ tứ ông ta một vị hoàng tử để kế tự thì người cha đầy diễm phúc đã ra lệnh cho người thợ bạc trong cung đình làm một bộ đồ chơi xa xỉ bằng nhôm , vàng và các thứ đá quý.



    sau thời gian ấy ít lâu , trong óc của Napôleon III đã chín muồi một đề án trêu gan , hứa hẹn một niềm vinh quang và hãnh diện , nhưng điều cốt yếu là làm cho các vua chúa khác phải xanh mắt vì ghen tị: hoàng đế đã quyết định trang bị cho binh lính trong quân đội của mình những bộ áo giáp bằng nhôm. Ông ta dành cho Xanh - Cle Đêvin một khoản tiền lớn để ông này tìm cách chế được nhôm với số lượng lớn. Lấy phương pháp của Vuêle làm cơ sở cho những thực nghiệm của mình , Xanh - Cle Đêvin đã đề ra một quy trình công nghệ thích hợp , nhưng kim khí của ông làm ra vẫn rất đắt. Chính vì vậy nên quân lính Pháp vẫn chưa được ướm thử những bộ áo giáp như vua chúa đã hứa hẹn , trong lúc đó thì nhà vua lại rất quan tâm đến việc hộ vệ bản thân mình: vệ sĩ của ông đã được trưng diện những bộ áo giáp mới tinh.



    bè cánh Bônapac định lợi dụng việc Xanh - Cle Đêvin điều chế được nhôm thuần chất để nhen nhóm lên ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa: ở khắp mọi nơi , ngươi ta kêu gào về chủ quyền của nước Pháp trong việc phát xuất hiện kim loại này. Đáng kính thay Xanh - Cle Đêvin , ông đã phản đối những lời “thổi phồng” này bằng một hành động thích hợp với một nhà bác học đích thật , đồng thời cũng rất độc đáo: ông đã dùng nhôm do chính mình làm ra ra để khắc một tấm huy chương mang chân dung Friđric Vuêle , đề năm “1827” , rồi gửi tặng nhà bác học Đức.



    Chính ở thời kỳ lúa ra đòng này cũng đã Lộ rõ ra “bạc Đêvin” với tư cách là vật trưng bày trong Cuộc trưng bày quốc tế. Có khả năng , những người tổ chức cuộc Cuộc trưng bày đã liệt nhôm vào hàng những kim khí thông dụng , nhưng tiếc thay nó vẫn chưa đạt tới điều đó. Thật ra , ngay từ thời lúc này , những người tiên tiến đã hiểu được rằng , khuy áo và áo giáp chỉ là những tình tiết nhỏ nhoi trong đời hoạt động của nhôm. Lần đầu tiên nhìn thấy những sản phẩm bằng nhôm , N. G. Checnưsepxki đã hào hứng thốt lên: “kim loại này nhất định sẽ có một tương lai to lớn. Hỡi các bạn , trước mắt các bạn là thứ kim loại của chủ nghĩa xã hội”. Trong tiểu thuyết “Làm gì” của ông xuất bản năm 1863 có những dòng như sau: “...Nghệ thuật cấu trúc của ngôi nhà bên trong này thanh tú biết bao nhiêu , những bức tường giữa các cửa sổ gọn nhẹ làm sao. Các ô cửa sổ thì to lớn , Đường bằng phẳng , choán hết cả chiều cao tầng nhà... Còn sàn và trần nhà thì thế nào? Các cửa lớn và khung cửa sổ kia làm bằng gì? Đó là cái gì vậy? Bạc chăng? bạch kim ư?...Ô , bây giờ tôi mới biết , Xasa chỉ cho tôi một tấm bảng nhẹ như tấm kính , lại có cả bông tai và trâm cài đầu như vậy nữa; phải , Xasa nói rằng , sớm hay muộn rồi nhôm cũng thay thế gỗ , và có khả năng còn thay thế cả đá nữa. Nhưng sao lại rất nhiều thế. Chỗ nào cũng là nhôm... Và đây , trong phòng này nữa , một nửa sàn để ngỏ , và thế là rõ rồi , nó làm bằng nhôm...”



    Nhưng trong lúc những dòng tiên tri này được Ghi chép thì nhôm chính yếu vẫn là thứ kim khí trang sức như trước. Một điều thú là năm 1889 , khi Menđelêep ở Luân Đôn , để tỏ ý dận công lênh xuất sắc của ông trong sự nghiệp phát triển ngành hóa học , người ta đã tặng ông một món quà quý: một chiếc cân làm bằng vàng và nhôm.

    Xanh - Cle Đêvin đã triển khai hoạt động mạnh mẽ. Tại thị trấn La Glaxie , ông đã xây dựng nhà máy luyện nhôm hàng đầu trên thế giới. Nhưng trong quá trình nấu luyện , nhà máy đã thải ra nhiều khí có hại , làm môi trường ô nhiễm bầu không khí của La Glaxie. Những người dân Vùng đất vốn coi trọng sức khỏe của mình và không muốn bị giết sức khỏe vì sự tiến bộ kỹ thuật nên đã khiếu nại lên chính phủ. Nhà máy đành phải chuyển đi nơi khác , lúc đầu , ra ngoại ô Pari , sau đó đến miền nam nước Pháp.



    Song Đến kì hạn này , nhiều nhà bác học đã thấy rằng , mặc cho tất cả các cố gắng của Xanh - Cle Đêvin , thủ pháp của ông cũng không có triển vọng. Các nhà hóa học ở các nước khác vẫn tiếp tìm tòi. Năm 1865 , nhà bác học Nga là N. N. Bekêtop đã đề xuất một phương pháp rất thích. Biện pháp này đã chóng vánh được áp dụng tại các nhà máy luyện nhôm ở các nước Pháp và ở Đức.



    Năm 1886 đã trở thành một cái mốc quan trọng trong lịch sử của nhôm , khi mà nhà bác học Mỹ là Saclơ Martin Hôn ( Charles Martin Hall ) và nhà bác học Pháp là Pôn Lui Tuxtanh Eru ( Paul Louis Toussaint Heroult ) một cách Đứng riêng ra nhau đã hoàn thiện biện pháp điện phân để sản xuất kim loại này ( Trong lịch sử khoa học và kỹ thuật có không ít những trường hợp mà hai nhà bác học trong cùng một năm đã đi đến những kết luận hoặc những phát minh như nhau. Sự trùng nhau này càng “chống chất” thêm bởi cả Hôn và Eru đều sinh năm 1863 và như thể đã ước hẹn với nhau , cả hai nhà phát minh này đều mất năm 1914 ). Ý tưởng này không phải là mới: ngay từ năm 1854 , nhà bác học người Đức là Bunzen đã phát biểu ý nghĩ về việc pha chế nhôm bằng cách điện phân các muối của nó. Nhưng phải mất hơn ba mươi năm , ý định này mới được thực hiện. Do biện pháp điện phân đòi hỏi nhiều năng lượng , nên nhà máy đầu tiên làm ra nhôm bằng thủ pháp này ở châu Âu đã được xây dựng ở Neyhazen ( Thụy Sĩ ) , gần thác nước sông Ranh - một nguồn điện rẻ tiền.



    bây giờ , sau hơn một trăm năm , chúng ta không thể hình dung được việc làm ra nhôm mà không dùng phương pháp điện phân. Chính điều đó đã giúp các nhà bác học phải vắt óc nghĩ suy về một sự thật đầy bí ẩn như sau. Ở Trung Quốc có ngôi mộ của đại đô đốc tên tuổi là chu du , chết hồi đầu thế kỷ thứ III. Cách đây không lâu , một số họa tiết trang hoàng ngôi mộ đã được phân tách bằng kính quang phổ. Cuối cùng thật bất ngờ đến nỗi phải phân tách đi phân tích lại nhiều lần , và mỗi lần như vậy , vạch kính quang phổ không thiên vị ai đã chứng tỏ hùng hồn rằng , thứ hợp kim mà những người thợ cổ xưa đã dùng làm họa tiết trang trí chứa tới 85% nhôm. Vậy bằng cách nào mà ngay từ thế kỷ thứ III người ta đã điều chế được kim khí này? Thời bấy giờ , con người biết đến điện họa chăng chỉ là qua sấm sét , mà chắc gì sấm sét thì chắc gì đã cùng quan điểm hoặc suy nghĩ với ai đó tham dự vào quá trình điện phân. Thế nghĩa là vẫn phải giả thiết rằng , từ thời cổ xưa ấy đã có một thủ pháp khác nào đó để pha chế nhôm , nhưng tiếc thay đã bị thất truyền hàng bao thế kỷ.



    Cuối thế kỷ XIX , ngành làm ra nhôm đã trưởng thành vượt bực , Cuối cùng là giá kim khí này giảm xuống rõ rệt và nó không còn được coi là thứ kim loại quý nữa. Dĩ nhiên , đối với những người thợ kim hoàn thì chẳng có gì đáng quan tâm nữa , nhưng lập khắc nó thu được sự chú ý của giới Công lao mà lúc này đang đứng ở ngưỡng cửa của những sự kiện lớn: ngành chế tạo máy bắt đầu phát triển mạnh mẽ , ngành Công lao ô tô đã đứng vững , ngành điện cơ đang đi những bước đầu tiên mà trong đó nhôm đóng vai trò quan yếu nhất.

    ===============================================================================
     
  3. lephuc01

    lephuc01 Đã đăng ký

    Bài viết:
    40
    Đã được thích:
    0
    Giới tính:
    Nam
    CHUYÊN SX CUNG CẤP SỈ LẺ NHÔM THANH KHUNG LỤA - RAY C BÀN IN CÁC LOẠI, PHỤ KIỆN BỌ NHÔM, SẮT. NHẬN GIA CÔNG NHÔM THEO KHUÂN MẪU



    LH 0937 655 551 - 0983 994 326



    WEDSITE THAM KHẢO: NHÔM KHUNG IN LỤA, RAY C BÀN IN CUNG CẤP SỈ LẺ



    [​IMG]

    [​IMG]

    [​IMG]



    ========================================================================================================

    Nhôm là gì?

    Nhôm là kim loại màu trắng bạc , mềm , nhẹ , độ phản chiếu cao , có tính dẫn nhiệt và dẫn điện cao , không độc , chống mài mòn. Nhôm là kim khí có nhiều thành phần nhất , chiếm 1/12 trong vỏ quả đất. Tuy nhiên , ta không tìm thấy nhôm thuần khiết trong thiên nhiên , chỉ có thể tìm thấy nhôm kết hợp với oxygen và những nguyên tố khác. Trong hoàn cảnh sống nhôm thường được gọi là hợp kim nhôm.

    Trong số các kim khí , nhôm vượt trội về tính chất cũng như hình thức và nhờ vào kỹ thuật làm ra làm cho nhôm có giá cả tranh đua với nhau. Nhôm được sử dụng càng ngày càng nhiều trong nhiều ngành , những thị trường lớn như ngành công nghiệp ô tô bắt đầu nhận ra phản ứng không thể so sánh được của nhôm.

    2.Tìm nhôm ở đâu và như thế nào?

    Quặng Bauxite là nguồn nhôm chủ yếu.

    Sau khi lọc , làm mát và kết tủa , hỗn hợp nhôm được lọc một lần nữa trước khi được nung thành bột. Sau đó là quá trình chắt , nung và nấu thành thỏi nhôm thuần chất .

    3 .Hợp kim

    Trong lò nấu hợp kim , nhôm thỏi được nấu chảy và trộn với kim khí khác như magnesium , silica , đồng… để làm nên hợp kim nhôm được sử dụng thông đạt các ngả. Thành phần nông dân vật lý của hợp kim nhôm này được quyết định bởi các kim loại bên trong nó. Chẳng hạn:

    - Hợp kim nhôm + Manganese chống mài mòn cao

    - hợp kim nhôm + Magnesium có tính hàn tốt

    - hợp kim nhôm + Đồng có tính gia công cao

    - hợp kim nhôm + Kẽm có độ bền cao

    4.Tính chất

    • Khối lượng riêng nhỏ (. 2 , 7g/cm³ ) nên nhôm và hợp kim nhôm chỉ nặng bằng 1/3 thép , đó là thuộc tính đặc biệt được coi trọng khi các thiết bị cần chế tạo phải chú trọng đến trọng lượng ( trong ngành Kĩ sư , vận tải... ).

    • Tính chống ăn mòn trong khí quyển: Do đặc tính ôxy hoá của nó đã biến lớp bề mặt của nhôm thành ôxít nhôm ( Al2O3 ) rất xít chặt và chống bào mòn cao trong khí quyển , từ thời gian này chúng có xác xuất dùng trong đa ngành mà không để ý sơn canh gác. Để tăng tính chống ăn mòn , người ta đã làm cho lớp ô xít nhôm canh gác dày thêm bằng cách anot hoá.

    • Tính dẫn điện: Tính dẫn điện của nhôm bằng 2/3 của đồng ( kim loại ) , nhưng do nhôm nhẹ hơn nên chúng được sử dụng nhiều hơn bởi nếu cùng truyền một dòng điện thì dây nhôm nhẹ hơn bằng 1/2; ít bị nung nóng hơn...

    • Tính dẻo: Rất dẻo , nên rất tiện lợi cho việc kéo thành dây , tấm , lá , băng , màng , ép chảy thành các thanh có biên dạng đặc biệt ( dùng cho khung cửa , các loại tản nhiệt...rất tiện lợi khi sản xuất ).

    • Nhiệt độ nóng chảy: tương đối thấp nên tiện lợi cho việc nấu chảy khi đúc , nhưng cũng làm nhôm và hợp kim nhôm không sử dụng được ở nhiệt độ cao hơn 300-400 độ C.

    • Độ bền , độ cứng: Thấp.

    5.Phân loại

    Hợp kim nhôm biến dạng

    Được chia làm hai loại là hợp kim nhôm biến dạng hoá bền được bằng nhiệt luyện và hợp kim nhôm biến dạng không hoá bền được bằng nhiệt luyện. Có một số vận dụng sau:

    • Nhôm thương phẩm ( >99 , 0% ):

    o Dùng trong Công lao hoá học , thực phẩm , đông lạnh , làm thùng chứa ( AA1060 )

    o Dùng làm dây cáp điện ( dây trần hoặc dây bọc ): AA1350

    Tạp chất có hại trong nhôm sạch bao gồm: Fe , Si tạo lên các pha giòn FeAl3

    • Hợp kim Al-Mn

    • Hợp kim Al-Mg

    Hợp kim nhôm đúc

    • Hợp kim Al-Si ( Silumin )

    • Hợp kim Al-Si-Mg( Cu )

    Là các loại hợp kim với khoảng Si rộng ( 5-20% ) và có thêm Mg ( 0 , 3-0 , 5% ) để tạo pha hoá bền Mg2Si nên các hệ Al-Si-Mg phải qua hoá bền.

    Cho thêm Cu ( 3-5% ) vào hệ Al-Si-Mg để cải thiện cơ tính và có tính đúc tốt do có các thành phần gần với cùng tin Al-Si-Cu nên được sử dụng trong đúc piston ( AA390.0 ) , nắp máy của động cơ đốt trong.

    hệ thống ký hiệu cho hợp kim nhôm

    Để ký hiệu các hợp kim nhôm người ta thường dụng theo hệ thống giao thông phân loại của Hoa Kỳ.

    Theo hệ thống giao thông phân loại này , các ký tự hàng đầu luôn là AA ( tiếng Anh: Aluminum Association )

    Các số sau thời gian ấy thường là: xxxxx đối với hợp kim nhôm biến dạng , và xxx.x đối với hợp kim nhôm cho loại đúc.

    Loại biến dạng

    • 1xxx: Nhôm sạch ( >99 , 0% )

    • 2xxx: Al-Cu , Al-Cu-Mg ,

    • 3xxx: Al-Mn

    • 4xxx: Al-Si

    • 5xxx: Al-Mg

    • 6xxx: Al-Mg-Si

    • 7xxx: Al-Zn-Mg , Al-Zn-Mg-Cu

    • 8xxx: Al-các hợp kim khác

    Đối với loại đúc:

    • 1xx.x: Nhôm sạch dạng thỏi hoặc dạng thương phẩm khác.

    • 2xx.x: Al-Cu

    • 3xx.x: Al-Si-Mg; Al-Si-Cu

    • 4xx.x: Al-Si

    • 5xx.x: Al-Mg

    • 7xx.x: Al-Zn

    • 8xx.x: Al-Sn

    ( Loại đúc không có 6xx.x )

    chương trình Việt Nam TCVN 1659-75 quy định ký hiệu hợp kim nhôm được bắt đầu bằng Al và tiếp theo lần lượt ký hiệu hoá học của nguyên tố hợp kim cùng chỉ số % của nó , nếu là hợp kim đúc thì sau rốt có chữ Đ ( Ví dụ: AlCu4Mg là hợp kim nhôm chứa 4% Cu , 1%Mg ). Với nhôm sạch ký hiệu bằng Al và chỉ số phần trăm của nó ( ví dụ: Al99; Al99 , 5 )

    hỗn hợp kim loại nóng chảy ở 500- 600 độ C được đúc thành cây. Những cây này có xác xuất được cắt thành từng khúc nhỏ theo ý muốn và chúng được đưa đến các nhà máy để định ảnh. Nhôm định ảnh được vận dụng rông rãi trong đời sống của chúng ta như cửa nhôm , khung nhôm , và các phân bố chịu lực khác có tính thẩm mỹ cao.

    6. Tính ưu việt của nhôm : “Ăn rắn chắc , mặc bền “ .

    - Cách âm , cách nhiệt:

    Được làm từ profile nhôm cách nhiệt kết hợp với hộp kính , hệ gioăng chống lão hóa và hệ phụ kiện kim khí đồng bộ , cửa nhôm và vách nhôm kính lớn có tình cảm âm , cách nhiệt cao.

    - Chịu lực tốt

    Profile nhôm có cầu cách nhiệt là loại nguyên liệu cao cấp dùng trong làm ra cửa sổ , cửa đi , vách kính lớn. Hệ có cấu tạo 3 lớp gồm 2 thanh nhôm định ảnh và cầu cách nhiệt bằng nguyên liệu polymer ở giữa. Thêm vào đó , các rãnh , vách kỹ thuật trong cấu trúc thanh nhôm được toan tính kỹ lưỡng để tạo sống gia cố , kênh thoát nước , khoang trống cách âm cách nhiệt. Với cấu tạo này , thanh profile nhôm có phú cho hình thể âm , cách nhiệt cao và ngh ii hơn nhựa uPVC là tính chịu lực tốt.

    - thể hiện ở kết cấu kiên cố của các thanh nhôm được làm ra theo chương trình quốc tế , có thể chịu được mọi sức ép của gió , bão trên cấp 12. , không bị cong vênh , co ngót , oxi hoá và han gỉ theo thời kì , thích nghi với những điều kiện thời tiết Rắc rối ở Việt Nam

    - trọng tải nhẹ

    Do đặc điểm nhôm là vật liệu nhẹ , có độ bền cao , được thiết kế các khoang rỗng cùng với các sống gia cường hợp lý nên việc sử dụng nguyên liệu này sẽ giảm tải trọng của hết thảy công trình hơn hẳn so với vách tường sử dụng các loại nguyên liệu khác.

    - Kinh tế trong sử dụng

    Tại các tòa nhà cao tầng có nhiều diện tích vách gặp mặt trực tiếp với ánh nắng mặt trời. Phí tổn điện năng cho hệ thống giao thông Hài hòa , thông gió nhằm ổn định hoàn cảnh khí trời bên trong tòa nhà rất lớn. Sử dụng cửa nhôm hay vách nhôm kính lớn có cầu cách nhiệt với hộp kính cách âm , cách nhiệt làm từ các loại kính như kính phản quang , kính cản nhiệt , kính an toàn...... là giải pháp chính trong việc tiết kiệm điện năng.

    Profile nhôm đã được xử lý bề mặt và sơn tĩnh điện với công nghệ tiền tiến nên có độ bền cao , luôn giữ được màu sắc và kiến trúc của cửa ngay trong cả điều kiện thời tiết hà khắc. Ngoại giả cửa nhôm hay vách nhôm kính lớn còn thuận tiện cho người chủ nhà khi sơn , sửa bởi chỉ lau chùi thường nhật là sáng đẹp như mới mà không cần phải tu tạo , bảo dưỡng định kỳ.

    - Tính thẩm mỹ

    Cửa nhôm kính rộng , giàu có lịch sự , nối và mở mang được không gian , tạo được tầm nhìn bao quát cho căn phòng.



    - Không cháy và không có khí độc : Nhôm không cháy , khi nóng chảy cũng không tạo ra khí độc như nhựa .

    bây giờ sự đa dạng trong thiết kế cửa nhôm và sự phát triển của công nghệ đã tạo cho người sử dụng nhiều ứng dụng với cửa nhôm hơn .

    - bảo vệ môi trường

    Nhôm được tái sinh với chi phí phù hợp. Nó có thể được tái sinh Hai ba lần mà không làm mất biến hóa vì thế phù hợp với sản phẩm canh gác môi trường

    7.Sơn và xi mạ màu

    - Hiệp hội các nhà sản xuất nhôm trang trí Mỹ quy định độ dày lớp xi như sau:

    * Không xếp loại ( 0.1 đến 0.3 mili ) dùng trang trí trong nhà

    * Loại 2 ( 0.4 đến 0.7 mili ) dùng trang trí bên trong và bên ngoài nhà , thường chịu được các chất tẩy rửa

    * Loại 1 ( 0.7 đến 1.0 mili ) dùng trang trí bên ngoài nhà , đòi hỏi tính gác canh cao

    - Sơn nước và sơn tĩnh điện:

    Thành phẩm được sơn nước và sơn tĩnh điện để có bề ngoài đẹp và canh gác khỏi bi( có tác động đến một điều gì đó của mưa acid , ô nhiễm sulfur , nhiễm muối và bị oxide hoá

    Có 2 loại dây chuyền sơn: sơn đứng và sơn nằm

    mặc dù có sự khác nhau giữa sơn nước và sơn tĩnh điện , cả hai đều có chung công năng tạo bề mặt đẹp , canh gác khỏi tác hại của môi trường

    Cần thẩm tra ngoài mặt và thành phần của sản phẩm theo những chương trình sau: độ cứng , độ dẻo , chống trầy xước , chống chất hoá học , chống mài mòn , không ghi bằng phấn , bền màu , độ bóng , chống tia tử ngoại và những biến hóa bảo vệ môi trường khác.

    Có 3 loại lớp phủ:

    AAMA 603: dùng cho cửa sổ , thời kì là 1 năm

    AAMA 605: dùng cho cửa kính , đòi hỏi thời gian lâu hơn , trên 5 năm

    ASCA 96: có vẻ ngoài đẹp và dùng trang hoàng đòi hỏi độ bền cao , thường trên 10 năm.

    ===================================================================

    Nhôm là nguyên tố phổ thông thứ 3 ( sau ôxy và silic ) , và là kim khí phổ biến nhất trong vỏ địa cầu. Đến hiện nay , nhôm được sử dụng rất nhiều trong hoàn cảnh sống. Nhưng ít người biết rằng nhôm đã có một thời mắc hơn cả vàng ngọc , là món đồ xa xỉ của bậc đế vương!



    đồ dùng làm từ Nhôm

    Nhà viết sử cổ đại Plini Bố có kể lại một sự kiện lý thú từng xảy ra gần hai ngàn năm về trước. Một hôm , một người lạ mặt đến gặp hoàng đế La Mã Tibêri. Người đó mang tặng hoàng đế một cái chén do chính mình làm ra từ một thứ kim khí lấp lánh như bạc , nhưng lại rất nhẹ. Người thợ nói rằng , anh ta lấy được thứ kim khí mà chưa ai biết này từ đất thó. Dễ thường Tibêri ít khi bận tâm hàm ơn ai , và ông ta cũng là một hoàng đế không biết nhìn xa trông rộng. Sợ rằng , thứ kim khí mới với những thuộc tính tuyệt vời của nó sẽ làm mất hết giá trị của đống vàng và bạc đang lưu giữ trong kho , nên vị hoàng đế này đã ra lệnh chém đầu người phát minh và phá tan xưởng của anh ta để từ đấy về sau không còn ai dám sản xuất thứ kim loại “nguy hiểm” ấy nữa.



    Đó là chuyện có thật hay chỉ là truyền thuyết - thật khó dạy. Nhưng dù sao thì “nguy cơ” cũng đã qua khỏi , và tiếc thay , đã qua lâu lắm rồi. Mãi đến thế kỷ XVI , tức thị khoảng một thiên thu trăm năm về sau , lịch sử của nhôm mới được ghi thêm một trang mới. Vị y sự kiêm nhà vạn vật học đầy nhân kiệt người Đức là Philip Aureon Teofrat Bombat Fôn Hôhengây ( Philippus Aureolus Theophratus Bombastus Von Hohenheim ) - người đã đi vào lịch sử với biệt danh là Paratxen , đã làm được điều đó. Khi Học hỏi các chất và các khoáng vật khác nhau trong đó có cả các loại phèn , nhà bác học này đã chính xác được rằng , chúng là “muối của một loại đất chứa phèn nào đó” mà thành phần nông dân của nó có chứa oxit của một kim khí chưa ai biết; thứ oxit này về sau được làm gọi là đất phèn.



    Từ thời xa xưa người ta đã biết đến các loại phèn mà Paratxen từng quan tâm. Theo công nhận của nhà viết sử người Hy Lạp là Hêrođot ( sống ở thế kỷ thứ V trước công nguyên ) thì các dân tộc cổ xưa đã dùng một loại chất khoáng mà họ làm gọi là “Alumen” , tức thị “làm săn sợi” để giữ màu khi nhuộm vải. Chất khoáng này chính là phèn.



    Vào khoảng thế kỷ thứ VIII - IX , phèn đã được dùng để nhuộm vải , để thuộc da cừu , da dê ở nước Nga cổ xưa. Thời trung thế kỷ , một số xưởng làm ra phèn đã hoạt động ở châu Âu.

    Năm 1754 , nhà hóa học người Đức là Anđrêat Xighizmunđơ Macgrap ( Andreas Sigismund Marggaf ) đã tách được thứ “đất chứa phèn” mà Paratxen đã nói đến từ hai trăm năm trước đó. Phải qua mấy chục năm nữa , nhà bác học người Anh là Hanfri Đêvi ( Humphry Davy ) mới thử tìm cách tách thứ kim loại ẩn núp trong phèn. Năm 1807 , bằng cách điện phân các chất kiềm , ông đã phát xuất hiện natri và kali , nhưng ông chưa phân giải được đất phèn bằng dòng điện như thế. Mấy năm , nhà bác học người Thụy Điển là Iuên Iacop Becxêliut ( Jons Jakob Berxelius ) cũng bắt tay vào những cuộc thí nghiệm như vậy , song công cuộc của ông không thu được kết quả. Mặc dù vậy , các nhà bác học vẫn quyết định đặt tên cho kim loại “bất trị” này: lúc đầu , Becxêliut gọi nó là alumium , và về sau , Đêvi đã đổi alumium thành aluminium ( nhôm ).



    Nhà bác học người Đan Mạch Hans Khrixtian Ecxtet ( Hans Christian Oersted ) là người hàng đầu chế được nhôm kim loại giống như người thợ vô danh thời cổ La Mã. Năm 1825 , trong một tập san hóa học , ông đã đăng một bài trong đó ông viết rằng , sau những thí nghiệm do ông tiến hành đã thu được “một mẩu kim loại có mầu và ánh kim giông giống thiếc”. Nhưng tạp chí này không lừng danh lắm nên thông báo của Ecxtet hầu như không được giới khoa học Đoái đến. Vả chăng , vì mê mải nghiên cứu về điện tử nên chính nhà bác học đã không coi trọng phát minh này của mình.



    Hai năm sau , một nhà hóa học Đức trẻ tuổi nhưng đã nức danh , tên là Friđric Vuêle ( Friederich Wohler ) đã đến Côpenhaghen để gặp Ecxtet. Ecxtet cho Vuêle biết là ông không định tiếp chuyện các thí nghiệm phối chế nhôm nữa. Thế là sau khi phản hồi nước Đức , Vuêle đã lao ngay vào nghiên cứu Sự tình này - một Sự tình mà ông quan hoài từ lâu. Chỉ đến cuối năm 1827 , ông đã công báo thủ pháp điều chế kim khí mới này của mình. Sự thật thì thủ pháp của Vuêle chỉ cho phép tách được nhôm ở dạng hạt có độ lớn không bằng đầu kim băng , nhưng nhà bác học đã tiếp tục làm thực nghiệm cho đến khi có đầy đủ tất cả các bộ phận cấu thành cần thiết các biện pháp pha chế nhôm ở dạng khối đặc. Ông phải mất ... mười tám năm vào việc đó.



    Thời bấy giờ , kim loại mới này đã có tên tuổi ngay. Nhưng vì người ta chỉ thu được nó với lượng rất ít ỏi nên giá của nó cao hơn giá vàng và tìm mua được nó không phải đơn giản.



    vì thế , cũng rõ ràng rằng , khi một vị quốc vương ở châu Âu đã sắm riêng được cho mình một bộ hoàng bào đính cúc nhôm thì ông ta liền lên mặt với các vua chúa khác mà món xa xỉ như vậy không hợp với túi tiền tài họ. Các vua chúa kia chẳng còn cách nào khác ngoài ghen tức với người có diễm phúc được làm chủ bộ cúc quý hiếm đó và đành âm thầm buồn bã chờ đến một ngày tốt đẹp hơn.



    Chẳng phải đợi chờ lâu , niềm vui lớn đã đến với họ: năm 1855 , tại cuộc triển lãm quốc tế ở Pari , người ta đã trưng bày "bạc lấy từ đất sét" làm kinh động dư luận. Đó là những tấm và thỏi nhôm do nhà bác học kiêm nhà Công lao người Pháp Hăngri Etien Xanh -Cle Đêvi ( Henri Etienne Sainte Claire Deville ) chế tác ra.



    Trước khi Lộ rõ ra những vật chưng bày đó , một vài sự kiện sau đây đã xảy ra. Mãn ấy , Napôleon III - “đứa cháu bé tí của ông bác vĩ đại” - như những người đương thời thường gọi , là hoàng đế nước Pháp. Vốn là một kẻ thích chọc tức người khác , có một lần , ông ta mở một bữa tiệc , tại đó , những người trong hoàng gia và những vị khách vinh hạnh nhất được dùng thìa và dĩa bằng nhôm. Còn những khách khác thì buộc phải sử dụng những công cụ ăn uống thông thường ( song vẫn là những thứ dùng cho các bữa tiệc của hoàng đế ) bằng vàng và bạc. Hẳn nhiên là họ uất ức đến phát khóc lên và không tài nào nuốt nổi , nhưng biết làm sao được khi ngay cả hoàng đế lúc đó cũng chẳng thể sắm đủ cho mỗi vị khách một bộ đồ bằng nhôm theo đề nghị. Và khi mà số phận ban xuống ông ta một vị con trai vua để kế tự thì người cha đầy diễm phúc đã ra lệnh cho người thợ bạc trong cung đình làm một bộ đồ chơi xa xỉ bằng nhôm , vàng và các thứ đá quý.



    sau đó ít lâu , trong óc của Napôleon III đã chín muồi một đề án trêu tức , hứa hẹn một niềm vẻ vang và hãnh diện , nhưng điều chính yếu là làm cho các vua chúa khác phải xanh mắt vì ghen tị: hoàng đế đã quyết định trang bị cho binh lính trong quân đội của mình những bộ áo giáp bằng nhôm. Ông ta dành cho Xanh - Cle Đêvin một Bớt đi lớn để ông này tìm cách chế được nhôm với số lượng lớn. Lấy thủ pháp của Vuêle làm cơ sở cho những thực nghiệm của mình , Xanh - Cle Đêvin đã đề ra một quy trình công nghệ thích hợp , nhưng kim khí của ông làm ra vẫn rất đắt. Chính bởi vậy nên lính tráng Pháp vẫn chưa được ướm thử những bộ áo giáp như vua chúa đã hứa hẹn , trong lúc đó thì nhà vua lại rất quan tâm đến việc hộ tống bản thân mình: vệ sĩ của ông đã được trưng diện những bộ áo giáp mới tinh.



    bè đảng Bônapac định lợi dụng việc Xanh - Cle Đêvin pha chế được nhôm thuần khiết để nhen nhóm lên ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa: ở khắp mọi nơi , ngươi ta kêu gào về chủ quyền của nước Pháp trong việc phát xuất hiện kim khí này. Đáng kính thay Xanh - Cle Đêvin , ông đã phản đối những lời “thổi phồng” này bằng một Bắt đầu làm phù hợp với một nhà bác học đích thực , song song cũng rất độc đáo: ông đã dùng nhôm do chính mình sản xuất ra để khắc một tấm huy chương mang chân dung Friđric Vuêle , đề năm “1827” , rồi gửi tặng nhà bác học Đức.



    Chính ở thời kỳ này cũng đã xuất hiện “bạc Đêvin” với tư cách là vật chưng bày trong triển lãm quốc tế. Có thể , những người tổ chức cuộc triển lãm đã liệt nhôm vào hàng những kim khí thông dụng , nhưng tiếc thay nó vẫn chưa đạt tới điều đó. Thực ra , ngay từ thời bấy chừ , những người tiền tiến đã hiểu được rằng , cúc áo và áo giáp chỉ là những tình tiết nhỏ nhoi trong đời hoạt động của nhôm. Lần đi hàng đầu nhìn thấy những sản phẩm bằng nhôm , N. G. Checnưsepxki đã phấn khởi thốt lên: “kim loại này nhất quyết sẽ có một tương lai to lớn. Hỡi các bạn , trước mắt các bạn là thứ kim loại của chủ nghĩa xã hội”. Trong tiểu thuyết “Làm gì” của ông xuất bản năm 1863 có những dòng như sau: “...Nghệ thuật kiến trúc của ngôi nhà bên trong này thanh thoát biết bao nhiêu , những bức tường giữa các cửa sổ gọn nhẹ làm sao. Các ô cửa sổ thì to lớn , Đường bằng phẳng , choán hết cả chiều cao tầng nhà... Còn sàn và trần nhà thì thế nào? Các cửa lớn và khung cửa sổ kia làm bằng gì? Đó là cái gì vậy? Bạc chăng? bạch kim ư?...Ô , bây giờ tôi mới biết , Xasa chỉ cho tôi một tấm bảng nhẹ như tấm kính , lại có cả bông tai và trâm cài đầu như vậy nữa; phải , Xasa nói rằng , sớm hay muộn rồi nhôm cũng thay thế gỗ , và có thể còn thay thế cả đá nữa. Nhưng sao lại rất nhiều thế. Chỗ nào cũng là nhôm... Và đây , trong phòng này nữa , một nửa sàn để ngỏ , và thế là rõ rồi , nó làm bằng nhôm...”



    Nhưng trong khi những dòng tiên tri này được viết ra thì nhôm cốt tử vẫn là thứ kim loại Trang điểm như trước. Một điều thú là năm 1889 , khi Menđelêep ở Luân Đôn , để tỏ ý nhìn công lênh xuất sắc của ông trong sự nghiệp phát triển ngành hóa học , người ta đã tặng ông một món quà quý: một chiếc cân làm bằng vàng và nhôm.

    Xanh - Cle Đêvin đã khai triển hoạt động mạnh mẽ. Tại thị trấn La Glaxie , ông đã xây dựng nhà máy luyện nhôm đầu tiên trên thế giới. Nhưng trong quá trình nấu luyện , nhà máy đã thải ra nhiều khí có hại , làm môi trường ô nhiễm bầu không khí của La Glaxie. Những người dân xứ sở vốn chú trọng sức khỏe của mình và không muốn hy sinh sức khỏe vì sự tiến bộ kỹ thuật nên đã khiếu nại lên chính phủ. Nhà máy đành phải chuyển đi nơi khác , lúc đầu , ra ngoại ô Pari , sau thời gian ấy đến miền nam nước Pháp.



    Song đến lúc này , nhiều nhà bác học đã thấy rằng , mặc cho tất cả các gắng gổ của Xanh - Cle Đêvin , thủ pháp của ông cũng không có triển vọng. Các nhà hóa học ở các nước khác vẫn tiếp tìm tòi. Năm 1865 , nhà bác học Nga là N. N. Bekêtop đã đề xuất một phương pháp rất thích. Thủ pháp này đã chóng vánh được vận dụng tại các nhà máy luyện nhôm ở các nước Pháp và ở Đức.



    Năm 1886 đã trở thành một cái mốc quan trọng trong lịch sử của nhôm , khi mà nhà bác học Mỹ là Saclơ Martin Hôn ( Charles Martin Hall ) và nhà bác học Pháp là Pôn Lui Tuxtanh Eru ( Paul Louis Toussaint Heroult ) một cách độc lập nhau đã hoàn thiện thủ pháp điện phân để sản xuất kim khí này ( Trong lịch sử khoa học và kỹ thuật có không ít những trường hợp mà hai nhà bác học trong cùng một năm đã đi đến những kết luận hoặc những phát minh như nhau. Sự trùng nhau này càng “chống chất” thêm bởi cả Hôn và Eru đều sinh năm 1863 và như thể đã hẹn ước với nhau , cả hai nhà phát minh này đều mất năm 1914 ). Ý tưởng này không phải là mới: ngay từ năm 1854 , nhà bác học người Đức là Bunzen đã phát biểu ý nghĩ về việc điều chế nhôm bằng cách điện phân các muối của nó. Nhưng phải mất hơn ba mươi năm , ý định này mới được thực hiện. Do biện pháp điện phân đòi hỏi nhiều năng lượng , nên nhà máy hàng đầu sản xuất nhôm bằng biện pháp này ở châu Âu đã được xây dựng ở Neyhazen ( Thụy Sĩ ) , gần thác nước sông Ranh - một nguồn điện rẻ tiền.



    hiện nay , sau hơn một trăm năm , chúng tôi không thể hình dung được việc sản xuất nhôm mà không dùng thủ pháp điện phân. Chính điều đó đã giúp các nhà bác học phải vắt óc nghĩ suy về một sự thật đầy bí ẩn như sau. Ở Trung Quốc có ngôi mộ của đại đô đốc danh tiếng là ngao du , chết hồi đầu thế kỷ thứ III. Cách đây không lâu , một số họa tiết trang trí ngôi mộ đã được phân tách bằng kính quang phổ. Kết quả thật bất thần đến nỗi phải phân tách đi phân tích lại nhiều lần , và mỗi lần như vậy , vạch kính quang phổ không thiên vị ai đã chứng tỏ hùng hồn rằng , thứ hợp kim mà những người thợ xa xưa đã dùng làm họa tiết trang hoàng chứa tới 85% nhôm. Vậy bằng cách nào mà ngay từ thế kỷ thứ III người ta đã điều chế được kim khí này? Thời bấy giờ , con người biết đến điện họa chăng chỉ là qua sấm sét , mà chắc gì sấm sét thì chắc gì đã cùng quan điểm hoặc suy nghĩ với ai đó tham gia vào quá trình điện phân. Thế tức là vẫn phải giả định rằng , từ thời cổ xưa ấy đã có một thủ pháp khác gì đó để pha chế nhôm , nhưng tiếc thay đã bị thất truyền hàng bao thế kỷ.



    Cuối thế kỷ XIX , ngành sản xuất nhôm đã trưởng thành vượt cấp , kết quả là giá kim khí này giảm xuống rõ rệt và nó không còn được coi là thứ kim loại quý nữa. Đương nhiên , đối với những người thợ bạc thì chẳng có gì đáng quan tâm nữa , nhưng lập tức nó thu được sự để ý của giới công nghiệp mà lúc này đang đứng ở ngưỡng cửa của những sự kiện lớn: ngành chế tạo máy bắt đầu phát triển Dữ dội , ngành công nghiệp ôtô đã đứng vững , ngành phưởng chức đang đi những bước hàng đầu mà trong đó nhôm đóng vai trò quan yếu nhất.

    ===============================================================================
     
  4. lephuc01

    lephuc01 Đã đăng ký

    Bài viết:
    40
    Đã được thích:
    0
    Giới tính:
    Nam
    DNTN TM Nhôm - Sắt Đại Phúc Linh

    email: lephuc.business@gmail.com

    TEL: 0937655551 Mr PHÚC - 0983994326 Mrs LINH

    VĂN PHÒNG : THIÊN PHƯỚC P9 TÂN BÌNH, TP.HCM






    Doanh nghiệp QTH mình chuyên cung cấp các loại thanh nhôm định hình cao cấp theo công nghệ tiên tiến nhất hiện nay. Qua nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực này, công ty chúng tôi không ngừng phát triển về mọi mặt để cho ra đời những sản phẩm đạt chất lượng tốt nhất.Với hơn trên dưới 200 mẫu mã sản phẩm khác nhau theo từng nghành nghề đáp ứng hầu hết nhu cầu của khách hàng trong mọi lĩnh vực như : xây dựng, trang trí nội ngoại thất và những sản phẩm phục vụ công nghiệp trong và ngoài nước. Đồng thời nhằm đáp ứng nhu cầu quý khách hàng chúng tôi còn nhận thêm gia công theo khuân mẫu, sơn tĩnh điện...Quý khách có thể tham khảo thêm từ trang Wed

    nhôm hộp đèn quảng cáo

    Danh sách các sản phẩm như sau:

    - nhôm thanh hộp đèn led làm quảng cáo các loại led 3 phân, led 5 phân, led 7 phân, led 8 phân (led 3D), led 9 phân, led siêu mỏng, led matrix,....

    [​IMG][​IMG][​IMG][​IMG]


    - nhôm thanh V các loại kích thước từ v25 đến v5, độ dày mỏng khác nhau liên hệ QTH để biết thêm chi tiết.



    ==========================================================================================================================================================================================================Nhôm là kim loại nhẹ quan yếu nhất trong cuộc sống con người và là một trong bốn kim khí màu cơ bản. Hiện tại , nhôm và các hợp chất của nhôm được sử dụng Đường bằng phẳng trong nhiều khu vực sản xuất và hoàn cảnh sống như chế tác tàu bay , ôtô , kỹ thuật điện , xây dựng , làm ra gạch chịu nhiệt , sản xuất sơn , phèn , dụng cụ gia đình , ... Về khối lượng sử dụng , nhôm chỉ đứng sau thép. Nhôm còn được sử dụng nhiều trong Công lao quốc phòng , nên được coi là một trong những kim loại chiến lược.



    >> Bài liên quan: Từ bauxite đến nhôm



    Phát triển Công lao nhôm sẽ góp phần công nghiệp hóa và đương đại hóa đất nước , tạo hoàn cảnh phát triển các ngành công nghiệp liên quan ở trung ương và xứ sở , phát triển kinh tế xã hội , nâng cao dân trí cho đồng bào vùng miền núi. Công lao nhôm phát triển sẽ góp phần tăng kim ngạch xuất cảng , cân đối ngoại tệ , tăng thu ngân sách , tạo công ăn việc làm và cải thiện Chỗ ở cho hàng vạn người lao động.



    Nếu chỉ tính riêng ngoại tệ để nhập nhôm kim khí , hàng năm nước ta phải như một lượng ngoại tệ lớn như sau:



    Năm 2000 : khoảng 160 triệu USD



    Năm 2005 : khoảng 250 triệu USD



    Năm 2010 : khoảng 390 triệu USD



    Năm 2015 : khoảng 480 triệu USD



    Trong tự nhiên , do hoạt tính cao nên nhôm chỉ tồn tại ở dạng các hợp chất , cốt tử trong các loại khoáng là felspat ( trường thạch ) và glimme cũng như sản phẩm phong hóa của chúng là các loại đất thó. Trong số các felspat và glime gồm có : kali felspat ( KAlSi 3 O 8 , natri felspat ( NaAlSi 3 O 8 ) , canxi felspat CaAl 2 Si 2 O 8 , muscovit KAl 2 ( AlSi 3 O 10 )( OH , F ) 2 , margarit CaAl 2 ( Al 2 Si 2 O 10 )( OH ) 2 , zyanit Al 2 O( SiO 4 ) , ... Trong số các loại đất thó chứa nhôm thì quan trọng nhất là boxit với thành phần nông dân là hổ lốn các khoáng nhôm hydroxit khác nhau , tiếp theo là cao lanh có thành phần nông dân chính yếu là Al 4 ( OH ) 8 Si 4 O 10 , kryolit với thành phần nông dân là Na 3 ( AlF 6 ) , và một số khoáng đất thó chứa nhôm với hàm lượng canxi , manhê hoặc sắt oxit cao.



    I. QUẶNG BOXIT



    Boxit là nham thạch có màu từ trắng đến đen , cốt tử là hỗn tạp các hợp chất vô cơ và nhôm hydoxit. Loại boxit thường gặp có vẻ son. Các loại hình quặng boxit quan trọng là bơsmit , gipsit ( hydragilit ) , diaspo , alumogel.



    Boxit có thành phần nông dân tương đối phức tạp , nhưng chủ yếu là hỗn hợp các khoáng nhôm hydroxit , thường bị nhiễm bẩn bởi sắt oxit ( tạo ra vẻ son cho quặng ) hoặc silic oxit. Thành phần nông dân hóa học của boxit ngả nghiêng giữa 50-63% Al 2 O 3 , 12-32 % H 2 O , 15-25 % Fe 2 O 3 , 2-10 % SiO 2 và 2-5 % TiO 2 .



    Hàm lượng nhôm oxit và silic oxit là những nhân tố quyết định chất lượng của quặng boxit.



    Nhôm oxit trong quặng boxit cốt yếu ở trong thành phần nông dân của hydroxit như diaxpo , bơmit , gipsit hoặc bayerit. Ngoài ra , nhôm oxit trong boxit còn có thể ở dạng corundum và trong thành phần nông dân khoáng của nhóm caolinit.



    Silic oxit trong quặng boxit nằm ở thể trạng không bị các nghĩa vụ hoặc trách nhiệm trói buộc , nhưng cũng có khả năng trong thành phần nông dân khoáng alumosilicat và aluomopherosilicat. Silic oxit có có tác động đến một điều gì đó bất lợi cho quá trình hòa tan quặng boxit , vì nó gây nên natri alumosilicat ít tan , làm tăng tiêu hao kiềm và nhôm , đồng thời làm tắc đường ống và thiết bị.



    Sắt trong quặng boxit có thể thuộc vào các nhóm sau:



    - Nhóm oxit và hydroxit bao gồm hematit ( a -Fe 2 O 3 , g -Fe 2 O 3 ) , hydrohematit ( Fe 2 O 3 aq. ) , manhêtit ( Fe 3 O 4 ) , hetit ( HFeO 2 ) , limonit ( HFeO 2 aq. ).



    - Nhóm cacbonat bao gồm siderit FeCO 3 , ankerit Ca( MgFe( CO 3 ) 2



    - Nhóm silicat gồm samozit với thành phần nông dân chính yếu là FeO , Al 2 O 3 , SiO 2 .



    - Nhóm sulfit và sunfat như FeS 2 , FeSO 4 .7H 2 O , Fe( SO 3 )( OH ).2H 2 O , KFe( SO 2 )( OH ) 3 .



    Titan oxit trong quặng boxit cũng ở trạng thái không bị các nghĩa vụ hoặc trách nhiệm trói buộc là rutin và anataz , hoặc ở các dạng hợp chất khác nhau như sphen CaTiO 2 SiO 2 , perobskit CaTiO 3 , ilmenit FeTiO 3 . Các hợp chất titan có xác xuất có tác động đến một điều gì đó gây thiệt hại cho quá trình hòa tan nhôm..



    1. Tiềm n ăng qu ặng boxit của Việt Nam:



    Cuối cùng thăm dò địa chất đã phát hiện trên bờ cõi nước ta có trữ lượng quặng boxit phong phú ở cả Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam. Tổng trữ lượng quặng boxit của Việt Nam ước tính khoảng 8 tỷ tấn , trong đó có 7 , 6 tỷ tấn ở các tỉnh Tây Nguyên. Với trữ lượng như vậy , nước ta đứng trong số các nước có trữ lượng boxit lớn trên thế giới.



    Quặng boxit là nguồn tài nguyên lớn của nước ta , là cơ sở để hình thành ngành công nghiệp luyện nhôm , là nguồn lực quan trọng trong quá trình Công lao hóa , đương đại hóa đất nước.



    mặc dù nhôm kim khí là sản phẩm quan trọng cho ngành kinh tế ân trong một nước và nước ta có sẵn nguồn vật liệu cũng như các hoàn cảnh khác để làm ra nhôm kim loại ( thuỷ điện , nhân lực... ) nhưng hiện tại chúng ta vẫn chưa sản xuất được nhôm kim loại. Do vậy , một trong mục đích mà chính phủ đã đề ra là xây dựng mới ngành Công lao nhôm Việt Nam , đáp ứng nhu cầu nhôm trong nước , tranh thủ xuất biên một phần sản phẩm sang các nước xung quanh , tạo cơ sở vật chất kỹ thuật ban sơ và đội ngũ quản lý , kỹ thuật , song song tích luỹ vốn để phát triển Công lao nhôm lâu dài với quy mô lớn , nhằm khai thác nguồn boxit sẵn có để xuất cảng các sản phẩm alumin và nhôm.



    Việt Nam có hai loại hình quặng boxit:



    1/ Loại quặng bơsmit và diaspo , tập trung cốt tử ở Miền Bắc Việt Nam , thành phần ở các tỉnh Hà Giang , Cao Bằng , Lạng Sơn , Bắc Giang ). Tổng trữ lượng dự đoán khoảng trên 350 triệu tấn , hàm lượng nhôm nao núng trong khoảng 39-65 %. Modul silic ( Al 2 O 3 /SiO 2 ) bằng 5-8. Cụ thể , quặng boxit phân bố như sau:



    - nhóm tụ khoáng Hà Giang: tài nguyên ước chừng khoảng 60 triệu tấn.



    - nhóm tụ khoáng Cao Bằng: tài nguyên ước đoán khoảng 240 triệu tấn.



    - nhóm tụ khoáng Lạng Sơn: tài nguyên đã được dò hỏi và áng chừng khoảng 50 triệu tấn.



    - Mỏ Lỗ Sơn ( Hải Dương ) có trữ lượng cấp B là 97.000 tấn , trữ lượng cấp C 1 là 24.000 tấn , với hàm lượng như sau:



    Al 2 O 3 : 52 %



    SiO 2 : 6 , 4 %



    Fe 2 O 3 : 26 %



    TiO 2 : 2 %



    CaO : 0 , 53 %



    MgO : 0 , 24 %



    Mất khi nung : 12 %



    - Vùng Quỳ Hợp - Quỳ Châu có tài nguyên dự tính khoảng 1 triệu tấn với hàm lượng như sau:



    Al 2 O 3 : 30 - 50%



    SiO 2 : 2 , 12 - 36%



    Fe 2 O 3 : 18 - 30%



    2/ Loại quặng gipsit , tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên và Miền Nam Việt Nam , với tổng trữ lượng ước tính khoảng 7 , 6 tỷ tấn.



    Trữ lượng quặng boxit đã được dò hỏi và chứng minh ở Tây Nguyên và Miền Nam Việt Nam là khoảng 2772 triệu tấn. Trong đó cụt các khu vực như sau:



    * Tài nguyên vùng Đắc Nông - Phước Long khoảng 1.570 triệu tấn



    * Tài nguyên boxit vùng Lâm Đồng tập kết ở hai tụ khoáng là Tân Rai và Bảo Lộc.



    - Trữ lượng vùng khoáng Tân Rai khoảng 57 triệu tấn cấp C 1 , 120 triệu tấn cấp C 2 , hàm lượng như sau:



    Al2O3 44 , 69 %

    SiO2 2 , 61 %

    Fe2O3 23 , 35 %

    TiO2 3 , 52 %

    Mất khi nung

    24 , 3 %





    - Trữ lượng vùng tụ khoáng Bảo Lộc khoảng 378 triệu tấn.



    nhìn chung , quặng boxit nguyên khai ở Lâm Đồng đều có chất lượng không cao , hàm lượng Al2O3 chỉ khoảng 35 - 37%. Địa ngục ta phải tuyển rửa quặng nguyên khai để thu được tinh quặng giàu nhôm hơn. Sau khi tuyển , tinh quặng boxit ở các tụ khoáng Lâm Đồng cũng chỉ đạt hàm lượng 45 - 49% Al2O3.

    ngoài ra , quặng boxit miền Nam còn có ở các vùng Kon Plong , Phú Yên , Quảng Ngãi , với trữ lượng khoảng 106 triệu tấn. Nói chung , boxit Việt Nam ở hầu hết các vùng đều có khả năng khai khẩn lộ thiên.



    Tuy nhiên , trừ những khu mỏ lớn ở Lâm Đồng , trữ lượng quặng còn lại được thành phần dàn trải , vỉa quặng không dày và hầu hết đều nằm trong các vùng làm ruộng nông , lâm nghiệp , nên sẽ có những khó khăn nhất quyết trong quá trình khai khẩn để sản xuất nhôm quy mô lớn , do va chạm trực tiếp đến việc sử dụng đất Cày cấy , vấn đề thăng bằng nước mặt , vấn đề quặng thải , Sự tình nước thải và nhìn chung là vấn đề sinh thái.



    2. Vận dụng



    ứng dụng cốt yếu của boxit là làm nguyên liệu cho Công lao luyện nhôm. Bộ môn Công lao sản xuất nhôm kim loại tiêu thụ 85% quặng boxit trên toàn thế giới. Phần boxit còn lại được sử dụng trong hai lĩnh vực là sản xuất alumin chuyên dụng ( 10% ) , bao gồm alumin nung và alumin hoạt hóa , và làm ra nguyên liệu chịu nhiệt ( 5% ) , ví dụ gạch chịu nhiệt , ximăng chịu lửa và các nguyên liệu mài.



    II. QUẶNG CAO LANH



    Quặng cao lanh là nham thạch mịn , tỷ trọng cao , cốt tử gồm khoáng caolinit có lẫn tạp chất , được làm nên khi phong hóa các nham thạch felspat macma khác nhau. Cao lanh nguyên chất màu trắng bốp , nhưng quặng cao lanh thông thường các màu khác nhau do nhiễm các tạp chất sắt và mangan. Thành phần nông dân hóa học cốt yếu là Al 4 ( OH ) 8 Si 4 O 10 , với các tạp chất như thạch anh , muskovit , rutil , zircon , manhêtit và felspat chưa phong hóa hết. Quặng cao lanh hình thành do sự phong hóa các silikat nhôm , đặc biệt là các loại felspat. Phần nhiều quặng cao lanh tồn tại ở các mỏ nguyên sinh , thỉnh thoảng ở các mỏ thứ sinh , ít khi ở dạng đất sét.



    1. Tiềm n ăng qu ặng cao lanh của Việt Nam:



    Quặng cao lanh nước ta được thành phần ở nhiều nơi như: Lào Cai , Yên Bái , Phú Thọ , Thái Nguyên , Tuyên Quang , Hải Dương , Quảng Ninh , Đà Lạt , Đồng Nai , Sông Bé. Trong đó những mỏ quặng cao lanh đã được dò hỏi , khai thác là:



    - Mỏ Thạch Khóan , Phú Thọ gồm 4 vùng với tổng trữ lượng đã xác định khoảng 3 , 2 triệu tấn. Trong số đó , vùng mỏ cao lanh Hữu Khánh là vùng mỏ có giá trị công nghiệp với hàm lượng quặng như sau:



    Al 2 O 3 18 - 49%

    SiO 2 47 , 5 - 76 , 1%

    Fe 2 O 3 0 , 11 - 2 , 9%

    Mất khi nung 9 , 81%







    - Mỏ Trại Mật , Lâm Đồng , với tổng trữ lượng đã thăm dò là 11 triệu tấn. Mỏ có 4 thân quặng , dày trung bình 20 m. Hàm lượng trung bình như sau:



    Al 2 O 3 18 - 49%

    SiO 2 22 , 8 - 65%

    Fe 2 O 3 0 , 5 - 7 , 9%

    Mất khi nung 0 , 16 - 22 , 5%







    Trong tổng trữ lượng đã được dò hỏi ở mỏ Trại Mật , khoảng 3 triệu tấn là có thể khai khẩn tốt.







    - Mỏ Bảo Lộc hiện đạt công suất khai khẩn , tuyển rửa là 35.000 tấn/năm. Chất lượng quặng boxit tinh sau khi tuyển rửa là:



    Al 2 O 3 : 49%

    SiO 2 : 2 - 3%

    Fe 2 O 3 : 18 - 22%

    TiO 2 : 3 - 4%

    Hàm ẩm : 10%





    - Các mỏ cao lanh Tấn Mài ( Quảng Ninh ) , Trúc Thôn ( Hải Dương ) , Tuyên Quang đã được khai thác dùng làm gạch chịu lửa cho công ty đanh thép Thái Nguyên. Cao lanh Tấn Mài ở dạng dickit và có thành phần nông dân hóa học như sau:



    Al 2 O 3 : 37 , 43%

    SiO 2 : 43 , 88%

    Fe 2 O 3 : 0 , 18%

    TiO 2 : 0 , 03%

    Na 2 O: 0 , 03%

    K 2 O : 0 , 05%

    P 2 O 5 : 0 , 09%

    MgO: 0 , 15%

    CaO: 0 , 21%





    ngoại giả , một số mỏ quy mô nhỏ ở các Vùng đất như Yên Bái , Phú Thọ , Hải Dương , Đồng Nai , Sông Bé đã được sử dụng để khai thác cao lanh làm nguyên liệu làm ra gốm sứ dân dụng , gốm sứ kỹ thuật , phèn nhôm , ...







    2. Vận dụng









    Từ cao lanh thô khai thác ở các mỏ , người ta áp dụng các biện pháp như rửa bùn , tuyển nổi , thẩm thấu điện , ...để thu được cao lanh kỹ thuật.



    Do những thuộc tính đặc biệt của nó ( dẻo ở thể trạng ẩm , rất cứng và bền sau khi nung ) nên cao lanh thường được sử dụng để làm ra các sản phẩm gốm sứ. Ngoài ra , cao lanh cũng được sử dụng làm phụ gia tư xuất giấy ( tạo bề mặt nhẵn , hút mực ) , sản xuất các vật liệu chống thấm trong xây dựng , ... Cao lanh còn là nguyên liệu quan yếu để làm ra các hợp chất nhôm.







    III. THỰC TRẠNG khai thác VÀ làm ra









    nhìn chung , các mỏ quặng boxit Việt Nam có những đặc trưng chính như sau:



    Chỗ tốt : Mỏ tương đối lớn , lớp đất phủ mỏng , chiều dày lớp chứa quặng thay đổi từ 1 đến 12m , hoàn toàn có khả năng khai thác bằng phương pháp lộ thiên , dễ dàng hoàn thổ và trồng lại rừng hoặc cây Công lao , quặng có hàm lượng nhôm oxit ở mức làng nhàng , quặng Miền Nam thuộc loại thuần tuý gipsit nên dễ xử lý ở nhiệt độ thấp , đầu tư không lớn , chi phí vận hành thấp. Tuy quặng nguyên khai có chất lượng không cao nhưng bằng phương pháp tuyển rửa đơn giản có thể nhận được tinh quặng có kiên cố để sản xuất alumin theo phương pháp Bayer.



    Nhược điểm : Lớp quặng mỏng nên khai trường phát triển nhanh , hầu như tuốt quặng đều cần phải được tuyển rửa nên mất mát nhiều nước. Đại khái các mỏ đều nằm xa cảng biển , hạ tầng cơ sở chưa phát triển.



    Vì những điểm nêu trên nên theo ý kiến nhiều chuyên gia trong và ngoài nước , quặng boxit Việt Nam nếu xử lý tại chỗ để sản xuất alumin và nhôm thì có phẩm chất hơn là xu ất khẩu quặng.



    1. Sản phẩm nhôm kim loại



    hiện nay , do chưa làm ra được nên chúng ta phải nhập hết thảy nhôm. Trong tương lai , cùng với sự phát triển kinh tế , nhu cầu về nhôm kim khí sẽ càng ngày càng tăng. Mặt khác , thịt nhập khẩu nhôm ở các nước xung quanh cũng rất lớn. Điều đó đòi hỏi chúng tôi phải nhanh chóng phát triển công nghiệp khai thác boxit và luyện nhôm để đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu nhôm khi có điều kiện.



    Đối với quặng boxit ở chuye Lâm Đồng , là nơi có trữ lượng boxit lớn nhất , hiện nay chúng ta mới chỉ khai khẩn và sử dụng để làm ra nhôm oxit và phèn nhôm.



    Trong những năm qua , Tổng công ti khoáng sản Việt Nam và công ti Pechiney ( Pháp ) đã liên doanh tiến hành khảo sát tiền khả thi và thực hiện dự án Tổ hợp boxit nhôm Lâm Đồng. Đây là một trong những dự án trọng điểm , có quy mô lớn. Cuối năm 2002 , UBND tỉnh Lâm Đồng đã rõ ràng khu vực khai khẩn mỏ , tuyển quặng và vịt xây dựng các nhà máy alumin , điện phân nhôm trong tổ hợp.



    Tổ hợp boxit-nhôm Lâm Đồng nằm ở địa bàn huyện Bảo Lâm ( khu khoáng sàng Tân Rai ) , có tổng vốn đầu tư hơn 667 triệu USD.



    đề án boxit Lâm Đồng bao gồm hai giai đoạn:



    - giai đoạn đầu từ 2003 đến 2013 , dự định tổ hợp boxit - nhôm sẽ đạt công suất hàng năm là 72.300 tấn nhôm điện phân , 300.000 tấn alumin ( trong đó 141 nghìn tấn để điện phân nhôm , còn lại sẽ xuất khẩu ) , khai khẩn mỏ 1.980.000 tấn quặng nguyên khai. -



    - thời kì hai ( giai đoạn mở rộng ) từ 2013 trở đi , công suất sẽ được nâng lên gấp 2 lần , đạt 146.100 tấn nhôm điện phân , 600.000 tấn alumin ( trong đó 284 nghìn tấn để điện phân nhôm , còn lại sẽ xuất cảng ) và khai thác mỏ 3.960.000 tấn quặng nguyên khai.



    Trong vài năm qua , 5 thân quặng số 46 , 51 , 52 , 53 , 54 tại lĩnh vực phía tây mỏ Tân Rai đã được lựa chọn đưa vào khai thác phục vụ người ốm cho cả dự án , có diện tích 40 km2 , nằm cách thị xã Bảo Lộc 15 km , cách đô thị HCM khoảng 200 km , cách Đà Lạt 120 km. Đồng thời cũng đã Dự bị mặt bằng xây dựng nhà máy alumin và nhà máy điện phân nhôm thực dân địa phận thịt thà Lộc Thắng huyện Bảo Lâm , có diện tích khoảng 118 , 5 ha. Khu vực khai khẩn mỏ và tuyển quặng có tổng diện tích 42 km 2 , nằm ở địa bàn thịt Lộc Thắng và hai xã Lộc Phú , Lộc Ngãi ( Bảo Lâm ).



    Về công nghệ khai khẩn , trong quá trình khai khẩn sẽ tiến hành liên hoàn từ bóc đất phủ đến khai khẩn quặng , thực hiện theo công nghệ sử dụng bãi thải trong phối hợp với bãi thải ngoài. Boxit được khai thác chính yếu trên các đỉnh đồi nhằm hạ độ cao và độ dốc của đồi , tạo hoàn cảnh cho việc tái hiện rừng và cây trồng cũng như phát triển kinh tế nông lâm nghiệp sau này. Trong quá trình khai khẩn và tuyển rửa , lượng bùn thải sẽ được lắng đọng trong của hồ nhân tạo. Nước được thải đi hoặc hồi lưu sau khi đã lắng trong.



    Về công nghệ sản xuất nhôm , tổ hợp boxit-nhôm Lâm Đồng áp dụng công nghệ điện phân tiền tiến của tập đoàn nhôm Pechiney theo phương thức chuyển giao công nghệ , sử dụng điện cực thiêu sẵn , nạp liệu điểm tự động , dòng điện 185 kA , bể điện phân AP-18. Đây là phương pháp điện phân nhôm nóng chảy theo công nghệ Hall-Heroult , tức thị điện phân alumin hòa tan trong dung dịch muối nóng chảy criolit ở nhiệt độ 950-960 o C. Thủ pháp này là công nghệ sản xuất nhôm công nghiệp duy nhất , đã tồn tại hơn 100 năm nay. Làm ra alumin được thực hiện theo phương pháp hoà tách ở 105 o C và áp suất khí quyển.



    Về mặt liên lạc chuyên chở , trong giai đoạn đầu quặng boxit khai khẩn được tải bằng đường bộ , chính yếu theo tuyến 20. Rồi đây , trong thời kì mở mang sẽ xây dựng tuyến sắt Bảo Lộc - Thị Vải để xuất biên alumin và nhập cảng nguyên nguyên liệu phù hợp cho tổ hợp.



    Theo tính toán , sau 30 năm hoạt động , chỉ với công suất ban đầu đề án sẽ đóng góp cho nhà nước gần 328 triệu USD gồm thuế lương lậu doanh nghiệp và thuế tài nguyên. Ngoài ra còn có các nguồn lợi khác như thu ngoại tệ từ xuất cảng alumin và kiệm ước ngoại tệ do không phải nhập cảng nhôm ( 4709 triệu USD ). Đề án cũng sẽ có những đóng góp rất quan yếu cho sự phát triển kinh tế tầng lớp của địa phương.



    2. Các hợp chất nhôm



    bây giờ trên 90% sản lượng Al 2 O 3 kỹ thuật trên thế giới được dùng để luyện nhôm , chỉ khoảng 10 % được sử dụng cho các khu vực phi luyện kim. Vì vậy vai trò của nguyên liệu giàu nhôm trở nên rất quan trọng đối với các ngành làm ra gốm , thuỷ tinh , xi măng alumin , phèn nhôm , bột mài , cao su , .. , nhất là khi Việt Nam chưa có ngành Công lao riêng để làm ra nguyên liệu này.



    Nhôm oxit Al 2 O 3 là vật liệu được sử dụng nhiều để làm ra gạch chịu lửa , các sản phẩm thủy tinh , gốm sứ và một số loại xi măng chịu lửa. Hàng năm nước ta phải nhập khoảng 10.000 tấn nhôm oxit.



    Nguồn nguyên liệu alumin của nước ta , ngoài boxit Lâm Đồng còn có cao lanh Tấn Mài-Quảng Ninh , cao lanh Yên Bái , boxit Lạng Sơn và Quảng Ninh , ... Có xác xuất nói trữ lượng vật liệu cho Công lao tinh luyện nhôm oxit của Việt Nam khá lớn nên ngành Công lao này có mai sau phát triển tốt.



    Tại nước ta , năm 2001 công ti hóa chất cơ bản Miền Nam đã đầu tư dây chuyền sản xuất nhôm oxit có công suất 400 tấn / năm , áp dụng công nghệ lò thoi gián đoạn từng mẻ. Chất lượng sản phẩm nhôm oxyt của công ti đạt hàm lượng Al 2 O 3 ≥ 99 , 1 % , hàm lượng sắt ≤ 0 , 1 %.



    Nhôm oxit kỹ thuật thường được làm ra bằng cách nung nhôm hydroxyt ở những nhiệt độ khác nhau như sau :



    - Sấy ở nhiệt độ dưới 300 o C : thu được Al 2 O 3 .3H 2 O dạng hydragilit



    - Sấy tiếp ở 300-400 o C: thu được Al 2 O 3 .H 2 O dạng bơsmit



    - Nung trên 500 o C : thu được g - Al 2 O 3 ( thành phần nông dân chính của nhôm oxit kỹ thuật thông thường )



    - Nung trên 1000 o C : g - Al 2 O 3 chuyển hóa thành a - Al 2 O 3 ( corun , nhôm oxit kỹ thuật nung )



    Hàm lượng Al 2 O 3 thu được có khả năng đạt tới 99 - 99 , 5% tuỳ theo phương pháp rửa và tinh luyện. Đặc biệt độ mịn , hàm lượng pha tinh thể a - Al 2 O 3 ( corun ) và mực độ chuyển hóa thành a - Al 2 O 3 nước phụ thuộc rất nhiều vào thủ pháp nung và cách xử lí nhiệt.



    Nhôm oxyt kỹ thuật sản xuất theo biện pháp Bayer truyền thống chủ yếu chứa khoáng g - Al 2 O 3 . Đây là sản phẩm trung gian sau khi nung nhôm hydroxyt ở nhiệt độ trên 500 o C. Nhược điểm của sản phẩm loại này là hàm lượng tạp chất kiềm Na 2 O cao và khó tách , gây gây thiệt hại cho sản xuất gốm và vật liệu chịu lửa. Khi sử dụng loại nhôm oxyt kỹ thuật này trong công nghiệp gốm sứ , người ta phải xử lý gia công rất Rắc rối và tốn kém: phải nung sơ bộ ở nhiệt độ cao ( khoảng 1450 o C ) rồi nghiền mịn lại trong máy nghiền bi thép hoặc nghiền rung , tiếp theo phải rửa sắt bằng axit rồi rửa lại bằng nước sạch , rồi mới đưa vào sử dụng trong phối liệu gốm sứ.



    Vào thập niên 1970 - 1980 , trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu xử lý nhôm oxyt kỹ thuật dùng cho gốm và nguyên liệu chịu lửa , nhưng khi áp dụng thực tiễn thì phí tổn sản xuất quá lớn , hiệu quả không cao , giá thành sản phẩm cao nhưng chất lượng lại hạn chế. Sang thập niên 1990 , bằng những tiến bộ kỹ thuật , nhiều công ty hóa chất trên thế giới đã ứng dụng phương pháp sol-gel , sa lắng hóa học hoặc plasma hóa học để sản xuất các loại Al 2 O 3 kỹ thuật nung với độ thuần khiết 99 , 7 % , hàm lượng tạp kiềm < 0 , 05 % , và đặc biệt là có cỡ hạt siêu mịn ( 5-10 mm ) với thành phần pha ≥ 95 % dạng a - Al 2 O 3 . Loại nguyên liệu này đã tạo ra bước đột phá trong công nghiệp gốm kỹ thuật , mở ra khả năng làm ra các loại bê tông gốm ít xi măng , siêu ít xi măng hoặc không dùng xi măng thủy lực ( xi măng alumin ) , gốm cắt gọt , gốm bền nhiệt , bền cơ , gốm cách điện cao thế , nguyên liệu chịu nhiệt cao , alumin chất lượng cao , ... Có xác xuất nói , trong thế kỷ 21 ngành làm ra nhôm oxyt kỹ thuật nung đã hoàn toàn từ bỏ các công nghệ truyền thống của thập niên 80.



    Với công nghệ mới , giá thành sản phẩm nhôm oxyt nung siêu sạch , kích thước hoặc kết cấu cực kỳ nhỏ không đắt hơn nhiều so với nhôm oxyt kỹ thuật dạng g - Al 2 O 3 truyền thồng. Bởi vậy , hiện nay sản phẩm nhôm oxyt kiểu mới đã trở nên vật liệu phổ quát cho ngành công nghệ gốm kỹ thuật và vật liệu chịu nhiệt , bê tông gốm.



    Để sản xuất nhôm oxit a - Al 2 O 3 ( corun ) dùng cho làm ra các mặt hàng gốm kỹ thuật và nguyên liệu chịu nhiệt cao cấp , các cơ sở trong nước ta cần định hướng theo công nghệ hiện đại của các nước đã làm , đó là nung kết tủa từ chế phẩm trung gian keo gel Al 2 ( OH ) 3 để thu được các dạng nhôm oxit kỹ thuật nung siêu mịn , siêu sạch , đạt độ chuyển hóa thành a - Al 2 O 3 ( corun ) trong sản phẩm nhôm oxit trên 95% ( tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng nhôm oxit kỹ thuật nung ).



    Nhôm hydroxyt là sản phẩm trung gian để làm ra nhôm oxit và nhôm sunfat. Nhôm hydroxyt thường được làm ra từ quặng boxit theo công nghệ Bayer với những bước căn bản như sau:



    - đập vụn , sấy và nghiền mịn quặng



    - phối trộn với dung dịch NaOH đặc



    - hòa tách trong nồi hấp ở nhiệt độ và áp suất cao trong vài giờ



    - rửa tách bùn đỏ ( gồm các hợp chất sắt , titan , silic , ... )



    - lọc dung dịch aluminat , khuấy trộn dung dịch này vài ngày trong thiết bị phân giải , tách nhôm hydroxyt kết tủa.



    Sản phẩm nhôm hydroxyt dạng gel có xác xuất được xử lí nhiệt để tạo ra các sản phẩm Al 2 O 3 kỹ thuật tuỳ theo nhiệt độ xử lý.



    Ở nước ta chỉ có duy nhất nhà máy hóa chất Tân Bình tại thành thị Hồ Chí Minh có dây chuyền làm ra nhôm hydroxyt , với công suất ổn định hiện tại là 11.000 tấn/năm. Nhà máy sử dụng quặng tinh từ khu mỏ Trại Mát , biểu Lộc. Vật liệu boxit này có nguyên lai bơsmit và hàm lượng Al 2 O 3 khá cao ( khoảng 47 % ) , tuy nhiên hàm lượng Fe 2 O 3 và SiO 2 cũng khá lớn , đặc biệt là Fe 2 O 3 . Chỗ tốt của loại boxit này là ngậm nước nên mềm , dễ gia công. Công nghệ sản xuất nhôm hydroxyt được áp dụng tại nhà máy Tân Bình là công nghệ Bayer.



    Sản phẩm nhôm hydroxyt của nhà máy hóa chất Tân Bình đạt chất lượng như sau:



    Al 2 O 3 : min. 63%



    Na 2 O : max. 0 , 2%



    Hàm ẩm : max. 13%



    Do những giữ lại như hàm ẩm , lượng kiềm dư cao , cỡ hạt thô , ... Cần phải sản phẩm nhôm hydroxyt của nhà máy Tân Bình không thể dùng cho gốm kỹ thuật và vật liệu chịu nhiệt. Chất lượng nhôm hydroxyt của Tân Bình còn thấp hơn so với sản phẩm nhập từ Trung Quốc.



    Nhôm sunfat Al 2 ( SO 4 ) 3 ( phèn nhôm ) được sử dụng chủ yếu để xử lý nước tại các nhà máy nước hoặc các hộ Nhà ở. Nhôm sunfat thường được làm ra từ nhôm hydroxyt và axit sunfuric.



    bây giờ nhà máy hóa chất Tân Bình sản xuất các sản phẩm nhôm sunfat cấp 15% Al 2 O 3 và 17% Al 2 O 3 , cũng như các sản phẩm nhôm kali sunfat và nhôm amoni sunfat.



    Những năm Ngày trước , nhiều cơ sở làm ra phèn ở phía Bắc như Phú Thọ , Đức Giang , Hải Dương đã dùng cao lanh để làm ra phèn nhôm ( bằng phản ứng với axit sunfuric ) dùng cho mục tiêu xử lý nước và phèn tinh chế dùng trong làm ra giấy. Nhưng chất lượng sản phẩm phèn nhôm theo biện pháp sản xuất này rất thấp vì lẫn nhiều tạp chất và dư axit. Đến nay , do có nguồn nhôm hydroxyt của nhà máy hóa chất Tân Bình nên phần nhiều các cơ sở trên đã dùng nhôm hydroxyt để làm ra phèn thay cho cao lanh , nhờ đó tăng chất lượng sản phẩm , giảm hao hụt axit và giảm lượng bã thải.



    IV. TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG



    1. Nhu cầu thị tr ư ờng



    Nước ta nằm trong khu vực có nhu cầu nhập khẩu nhôm vào loại lớn nhất trên thế giới. Hàng năm các nước ASEAN , Nhật Bản , Hàn Quốc , Đài Loan phải nhập trên 4 triệu tấn nhôm , Trung Quốc và Nga nhập 3-4 triệu tấn alumin để điện phân nhôm. Với vịt địa lý thuận lợi và mối giao tiếp kinh tế truyền thống , đây là thịt thà khu vực tiềm tàng cho các sản phẩm nhôm của nước ta.



    Nhu cầu về sản phẩm nhôm trong nước ta hiện nay cũng khá lớn , mỗi năm nước ta nhập khoảng 70.000 tấn nhôm kim loại. Dự báo nhu cầu nhôm trong những năm tới sẽ như sau:



    Dự báo nhu cầu nhôm đ ến 2015



    Chủng loại

    2005

    2010

    2015



    Nhôm thỏi

    60.000

    80.000

    100.000



    Nhôm hình

    39.000

    65.000

    80.000



    Nhôm tấm , lá

    29.500

    35.000

    40.000



    Các loại khác

    10.050

    15.000

    20.000



    tổng cộng

    138.550

    195.000

    240.000











    Về nhôm oxyt , nhu cầu nước ta ngày nay như sau:



    khu vực sử dụng Nhu cầu hiện nay ( tấn Al 2 O 3 /năm )



    nguyên liệu xây dựng 450 - 500



    nguyên liệu chịu lửa 1900 - 2300



    Thủy tinh 500



    Gốm sứ 150 - 200



    Tổng cộng 3000 - 3500 tấn



    Dự báo , sau năm 2005 chỉ riêng nhu cầu nhôm oxyt kỹ thuật dùng cho công nghiệp silicat ( bao gồm các ngành sao thủy , gốm sứ , gốm kỹ thuật , vật liệu chịu nhiệt ) sẽ tăng lên đến 15.000 - 20.000 tấn /năm. Nếu tính cả tới nhu cầu của các ngành khác , nhất là khi Việt Nam thực hành chiến lược phát triển ngành công nghiệp luyện nhôm , thì triển vọng thịt thà của ngành sản xuất và cung cấp nhôm oxit kỹ thuật trong mai sau là rất lớn.



    Nước ta cũng có nhu cầu lớn về sản phẩm phèn nhôm , ngoại giả phèn nhôm còn có xác xuất được xuất khẩu sang một số nước trong khu vực. Năm 2001 , công ty Hóa chất căn bản Miền Nam đã xuất được 1500 tấn phèn nhôm.



    2. Tình hình ngành Công lao nhôm ở một số n ư ớc



    Những nước và lĩnh vực có nhiều quặng boxit là các nước Địa Trung Hải của châu Âu như Pháp , Italia , Nam Tư , Rumani , Hy Lạp , và một số nước châu Âu khác như Hungari , Nga , Cadăctan. Những mỏ boxit lớn nhất thế giới nằm ở các nước châu Mỹ như Hoa Kỳ , Guyana , Haiti , Giamaica. Các nước như ấn Độ , Trung Quốc , Auxtralia , Gana , Camơrun , Modămbich , Madagasca , Thổ Nhĩ Kỳ , Inđônexia , ... cũng có những mỏ boxit lớn.



    bây giờ , trên thế giới có khoảng 20 nước khai thác boxit , 25 nước làm ra alumin và 40 nước sản xuất nhôm bằng thủ pháp điện phân. Năm 2000 , tổng sản lượng các sản phẩm đó trên toàn thế giới như sau:



    - boxit : 135 triệu tấn



    - alumin : 52 , 8 triệu tấn



    - nhôm : 24 , 4 triệu tấn

    Những nước làm ra boxit , alumin và nhôm quy mô lớn trên thế giới hiện tại là ( sản lượng năm 2000 , triệu tấn ):



    Nước

    Boxit

    Alumin

    Nhôm



    Australia

    52 , 34

    15 , 681

    1 , 769



    Mỹ

    0

    4 , 786

    3 , 668



    Trung Quốc

    8 , 00

    4 , 330

    2 , 820



    Braxin

    13 , 84

    3 , 743

    1 , 271



    Jamaica

    11 , 30

    3 , 640

    0



    Nga

    4 , 0

    2 , 890

    3 , 274



    Ấn Độ

    6 , 67

    2 , 100

    0 , 665



    Surinam

    3 , 80

    1 , 900

    0



    Vênêzuêla

    4 , 70

    1 , 750

    0 , 571



    Ucraina

    0

    1 , 360

    0 , 104



    Canada

    0

    1 , 200

    2 , 373



    Cdăcxtan

    3 , 73

    1 , 200

    0



    Tây Ban Nha

    0

    1 , 100

    0 , 366



    Italia

    0

    1 , 023

    0 , 189



    Đức

    0

    1 , 000

    0 , 644







    Như vậy , Australia hiện đang đứng đầu thế giới về sản lượng boxit ( chiếm 40 % sản lượng thế giới ) và alumin ( chiếm 30% ) , đứng thứ năm thế giới về sản lượng nhôm.



    Những nước sản xuất nhôm đầu tiên thế giới là Mỹ , Nga , Trung Quốc , Canađa , Braxin và Na Uy , với sản lượng nhôm đạt từ 1 đến trên 3 , 5 tỷ tấn.



    3. Tình hình khai thác quặng nhôm và làm ra nhôm tại một số n ư ớc châu Á



    Ấn Đ ộ:



    Trữ lượng boxit của Ấn Độ là 2 , 7 tỷ tấn , phần nhiều nằm ở bờ biển phía Đông.



    Nhu cầu về các sản phẩm nhôm của ấn Độ đang ngày một tăng , một phần do khuynh hướng chuyển sang dùng các vật liệu nhôm thay cho các vật liệu gỗ để bảo vệ môi trường . Trước kia Ấn Độ phải nhập nhôm kim loại , nay đã tự đáp ứng được nhu cầu bằng sản xuất trong nước và đã xuất cảng nhôm có lãi.



    Trung Quốc:



    Trung Quốc có cộng tất cả lại khoảng 300 mỏ boxit , tập trung ở các tỉnh Shanxi , Guizhou và Henan , nhưng ngoại giả cũng còn có ở Hebei , Shandong và Sichuan. Phần nhiều lượng boxit xuất khẩu của Trung Quốc được khai thác tại Shanxi và Guizhou.



    Mỗi năm Trung Quốc làm ra khoảng 4 , 5 triệu tấn boxit ( kể cả đất sét chịu nhiệt ) , trong số đó khoảng 3 triệu tấn được cung Đem cho thịt thà nội địa , còn 1 , 2 đến 1 , 5 triệu tấn được xuất biên ra ngoại bang. Ngoài boxit khai khẩn cho công nghiệp luyện nhôm , Trung Quốc còn làm ra ba loại boxit phi luyện kim là : boxit làm nguyên liệu chịu lửa , boxit làm nguyên liệu mài và boxit làm vật liệu que hàn.



    Sản lượng boxit phi luyện kim của Trung Quốc đạt khoảng 3-3 , 6 triệu tấn , trong số đó gần một nửa được xuất biên. Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu boxit dùng làm vật liệu chịu nhiệt. Hiện nay , chỉ riêng xuất biên boxit loại này của Trung Quốc đã lên đến khoảng 1 triệu tấn / năm , chiếm 70 % thịt thà thế giới.



    Trước thập niên 1980 , xuất cảng boxit của Trung Quốc còn ở mức rất khiêm tốn , chủ yếu là xuất sang Nhật Bản. Sau khi tiến hành canh tân kinh tế và mở cửa ra thịt quốc tế , sản lượng boxit của Trung Quốc đã càng ngày càng tăng và thu hút sự để ý của các thịt nước ngoài. Từ đó đến nay , Trung Quốc đã chiếm lĩnh thịt thà boxit quốc tế và trở thành nhà cung ứng boxit quan yếu trên thế giới.



    V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ



    Nước ta có nguồn vật liệu chứa nhôm rất dồi dào , trữ lượng lớn , vì thế nhà nước cần có một chiến lược phát triển ngành công nghiệp nhôm một cách Toàn thể. Cần Đa chủng hóa các sản phẩm chứa nhôm vì ngày nay ở nước ta chỉ có Nhà máy Hóa chất Tân Bình là sản xuất nhôm hyđroxyt phục vụ người ốm chủ yếu cho sản xuất phèn nhôm. Các sản phẩm nhôm khác rất cần cho các ngành công nghiệp khác nhau như: oxyt nhôm kỹ thuật dùng cho ngành vật liệu chịu nhiệt với nhu cầu tiêu thụ hàng năm khá lớn , oxyt nhôm hoạt tính dùng ngành dầu khí , bột nhôm hoặc các sản phẩm chứa nhôm khác v.v... , nhưng trong nước chưa làm ra được. Vì thế triển vọng phát triển ngành công nghiệp nhôm là khá lớn , quốc gia nên coi xét để đầu tư một cách có hiệu quả nhất.



    Do hoàn cảnh đặc điểm của nước ta hiện nay là nguồn điện còn giữ lại , giá điện cao , công nghiệp nhôm của nước ta nên đi theo hướng phát triển là khai thác boxit , làm ra alumin quy mô lớn để xuất biên , tiến tới sản xuất các hợp chất nhôm khác , đồng thời khi có điều kiện về thủy điện thì dành một phần nguồn điện này để xây dựng các nhà máy điện phân nhôm nhằm đáp ứng một phần nhu cầu nhôm kim khí trong nước.



    dự án boxit Lâm Đồng đang được triển khai là điều kiện thuận tiện quan yếu cho sự phát triển của ngành Công lao nhôm. Nhưng chúng tôi phải đồng thời xây dựng cơ sở nội lực về khoa học công nghệ , xây dựng đội ngũ công nhân , cán bộ Có sẵn Thấp để có khả năng tiếp thu khoa học công nghệ mới , đáp ứng được các yêu cầu đa dạng và nghiêm ngặt của quá trình đầu tư và sản xuất.



    chúng tôi cũng cần khai thác tối đa và bổ khuyết các kết quả Học hỏi quá khứ , để làm cơ sở cho thời kì nghiên cứu tiếp theo một cách thực sự khách quan và chuẩn xác.



    Vấn đ ề khai khẩn tận thu các nguyên tố hiếm từ quặng boxit



    Theo số liệu phân tách , quặng boxit Việt Nam có hàm lượng gali trung bình là 38g , còn hàm lượng vanađi là 757 g V 2 O 5 / tấn tinh quặng.



    Trong làm ra alumin cũng như trong các dự án lớn về sản xuất-chế biến nhôm ở nước ta , bây giờ chưa đặt vấn đề khai thác tận thu các nguyên tố hiếm trên trong quặng boxit. Trong khi đó , các cơ sở sản xuất na ná ở nhiều nước khác đều có khâu khai khẩn các nguyên tố này. Việc thu hồi gali và vanađi trong quá trình sản xuất nhôm và các hợp chất của nó đã được Học hỏi triển khai có Cuối cùng ở nhiều nước. Trong hoàn cảnh ngày nay , việc triển khai công nghệ và kỹ thuật khai thác các nguyên tố hiếm từ quặng boxit là tuyệt đối khả thi. Quy trình công nghệ đã được hoàn thiện , thiết bị không quá Rắc rối , nhưng ở Việt Nam chưa có cơ sở nào tiến hành nghiên cứu thử nghiệm và khai triển. Giá của gali trên thịt thế giới là 1600 USD/kg , còn giá của V 2 O 5 là 4-6 USD/kg , nếu không tận dụng khai khẩn các nguyên tố hiếm này thì sẽ rất phung phí. Vì vậy quốc gia nên có đầu tư nghiên cứu triển khai cho khu vực này và cần tiến hành ngay để có thể đón đầu khi chúng ta bắt đầu sản xuất alumin và nhôm quy mô lớn.



    Việc tận thu các nguyên tố hiếm trong làm ra các hợp chất nhôm có ý nghĩa lớn về nhiều mặt :



    - góp phần hạ giá thành sản phẩm chính



    - khai khẩn kiệm ước và hợp lý tài nguyên tự nhiên



    - thu được những sản phẩm đặc biệt quý hiếm sử dụng cho những ngành công nghệ cao như bán dẫn , điện tử , chế tác hợp kim , xúc tác , ...



    - giảm lượng chất thải độc hại vào môi trường
     

Chia sẻ trang này

Đang tải...